09:52 | 12/11/2013

Ngôi nhà kỳ dị của lão nông

Lão mang dáng dấp của một người phong trần, nhưng bên trong vẻ ngoài lãng tử đó là một trái tim đam mê đồ cổ. 30 năm qua, lão lặn lội đi khắp các tỉnh miền Bắc để sưu tầm đồ cổ, rồi ghép lại thành “ngôi nhà cổ vật” giữa làng.


30 năm ông gắn bó với đam mê, mặc kệ thái độ xa lánh của mọi người vì “sợ điên nên không dám đến gần”...

Ai bảo khùng, điên... lão mặc kệ, vợ con khóc lóc ngăn cản, lão cũng chẳng dừng.

Từ lâu, cái tên Nguyễn Văn Trường (thôn Kiệu Sơn, Chấn Hưng, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc) đã nổi đình nổi đám trong xã bởi việc ông làm: mua bát đĩa, chum vại, đồng xu cũ để... làm nhà. Chỉ cần nhắc đến tên ông, người ta đã đặt biệt danh “Trường đồ cổ”, “gã khùng” thích làm việc “điên rồ”. Người phụ nữ bán hoa quả đầu cổng chợ Kiệu Sơn tặc lưỡi: “Mang tiếng là người trong làng, nhưng có khi cả tháng mới gặp một lần. Lão cứ đi triền miên suốt tháng này qua tháng khác, có mấy khi ở nhà đâu”.

“Đến bây giờ, người ta vẫn nói tôi điên”

Sự “biệt tích” của ông Trường cũng chỉ vì “thỏa chí đam mê” với đồ cổ. Có người thương vợ ông lam lũ, tảo tần, có kẻ trách ông làm cái việc “tốn thời gian và tiền bạc” khi “thấy ông mang toàn đồ mà người ta bỏ đi như bát đĩa sứt, mảnh gốm, đít lọ... ở dọc sông Hồng về nhà cất giữ, nâng niu như báu vật, trong khi vợ con đang đói ăn, đói chữ”. Có người còn nghi ngờ “chắc ông bị mắc bệnh gì”. Trách là trách thế, chứ bao nhiêu năm nay, nhà ông Trường thường “đông khách” nhất làng. Có vị khách đến vì cần thẩm định những món đồ của ông chủ, có kẻ lại tò mò muốn “mục sở thị” ngôi nhà kỳ quặc và cả “ý tưởng điên rồ” của lão...

Khỏi cần phải hỏi nhiều, ngay từ đầu ngõ, người ta dễ dàng tìm thấy nhà ông Trường nhờ kiến trúc khá đặc biệt. Nhà ông Trường nổi bật nhất trong số những mái ngói đỏ hồng khác nhấp nhô giữa làng. Thoạt nhìn, căn nhà như một khu biệt thự cổ, tường và thành nhà có vô vàn bát đĩa cũ, những mảnh gốm vỡ, vài chục chiếc cối đá xếp thành hàng ở tường bên phải, cánh cổng hình mái vòm với những mảnh gốm vỡ, bình, đĩa đủ loại hoa văn từ hoa điểu, thạch trúc, tam hữu, tùng hạc, lý ngư, phượng vũ, phúc - lộc - thọ... Bụi trúc trước nhà treo những rế cũ, khèn dân tộc, vỏ dao cũ, đèn, nồi nhôm... Cạnh bụi trúc là những tảng đá được bố trí theo phong thủy, có một khe nước nhỏ để nuôi cá. Vài chiếc lọ bị vỡ, ông làm chậu cảnh để trồng hoa.

Phía bên trái là căn nhà cấp bốn với ba cột gắn những đồng tiền vàng, đồng xèng, khuy áo cũ kỹ, tất cả các tường bao quanh cũng được gắn đĩa gốm... Ông tự hào: “Có hơn 7.000 bát đĩa, chum vại gốm; hơn 1 tạ đồng xu được gắn lên tường bao quanh căn nhà. Phần tường sau của nhà, tôi gắn bằng 7.000 viên ngói”. Tất cả đều do ông “nhặt” trên những chuyến đi để vừa “trang trí”, vừa là kỷ vật của ông ở những vùng miền.

“Tôi tự góp tiền mua xi-măng, đi nhặt đá cuội dưới chân cầu Việt Trì để hoàn thành ngôi nhà này. Từ năm 1996 đến giờ, ngôi nhà mới cơ bản được hoàn thành. Tất cả đều làm theo tự nhiên, tôi không có ý tưởng nào độc đáo cả. Nhưng ai đến đây đều khen là trình bày căn nhà có khoa học và nghệ thuật”, ông Trường lý giải.

Ông dẫn tôi đi thăm quan căn nhà bằng gốm sứ cổ. Trước mặt là mảnh đĩa gốm từ đời Lý, bị vỡ một miếng bằng 2 - 3 ngón tay. Miệng tỳ bà đời Trần, xưa hay dùng để đựng rượu, có niên đại 1.000 năm tuổi, ông mua 30.000 đồng từ một gia đình ở Phú Thọ, nào là thân của tỳ bà bị vỡ cũng được ông “mua” với giá 50.000 đồng cách đây hơn chục năm từ người bạn sưu tầm đồ cổ. Những mảnh gốm vỡ đời Trần, đời Lê, ông nhặt dọc sông Hồng, hai chiếc đĩa gốm đời nhà Minh đặt cân đối trước cửa ra vào của gian nhà chính... “Những người am hiểu thì thích, nhưng vợ tôi cho rằng tôi làm cái việc không sinh ra tiền, còn các con thì bảo bố có cho cũng không lấy”.

Ông Trường năm nay đã 52 tuổi, tóc dài búi tó, nước da ngăm đen, dáng cao gầy ẩn hiện dấu vết thời gian và những thăng trầm mưu sinh, nhưng đôi mắt vẫn sáng lấp lánh đam mê. Mấy năm gần đây, dân làng mới thấy ông ở nhà nhiều, nhưng mỗi ngày, ông vẫn dạo quanh cầu Việt Trì và các huyện lân cận để “tha về” 4, 5 thứ: khi thì bát đĩa, khi lại chum lọ, đồng xu. Tiền ông bỏ ra để có được khối tài sản khổng lồ đó, ông không thể tính hết được. “Chỉ vì mê đồ cổ, mà nhà tôi vẫn nghèo rách mồng tơi, mái nhà chỉ lợp bằng pro-ximăng. Trong khi nhà em trai tôi đã xây sửa khang trang, có chỗ che mưa, che nắng”.

Trở về từ chiến trường Campuchia, năm 1986, ông Trường lấy vợ, sinh con. Nhà chỉ có vài sào ruộng, ông làm thêm nghề sơn rong bàn ghế thuê để kiếm sống. Nghề sơn rong buộc ông phải đi lại nhiều, nhưng cũng là cơ hội để ông được biết đến nhiều kiến trúc nhà, tìm hiểu các đồ cổ đẹp và trò chuyện với những người ham mê đồ cổ. Đam mê đồ cổ dấy lên trong ông lúc nào không hay.

Tìm được một mảnh gốm cổ không phải là chuyện dễ, nhất là với những người “áo ngắn”, cách ông gọi về sự nghèo của mình, như ông. Nỗi buồn “áo ngắn” đeo đuổi lão suốt thời gian dài. Vì “áo ngắn”, ông chỉ dám sưu tầm đồ có giá trị những niên đại gần đây.

Với chiếc xe đạp và “gia tài” là những gói mì tôm cất trong túi, ông lặn lội hết Việt Trì, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang... để tìm đồ cổ. Chuyến đi vất vả nhất của ông là chuyến lên Vĩnh Quang (Tam Đảo, Vĩnh Phúc). Đến nơi nào, gặp ai, đi dọc triền sông hay thậm chí các hàng đồng nát, ông đều tìm đến. “Có những cái đĩa vỡ có niên đại ngàn năm nhưng người ta không biết ném xuống hồ, hay những đồng tiền xu cũ bán theo cân cho đồng nát... tôi xót xa lắm. Có cái, tôi vào mua, họ còn cho không, bảo “mang đi cho rộng nhà”. Lúc đó, tôi vui vì nhận được... món hời”, ông kể. Hễ gia đình nào trong thôn có gốm cũ, ông đều sang xem xét, gạ mua lại, với giá từ vài chục ngàn đến vài trăm ngàn đồng. Làm thuê bao nhiêu tiền, ông dành hết cho gốm. Cứ như thế, gần 30 năm ông gắn bó với đam mê, mặc kệ thái độ xa lánh của mọi người vì “sợ điên nên không dám đến gần”...

Bà Hồ Thị Nga, vợ ông Trường: “Có lúc tôi nghĩ, giá như đừng lấy ông ấy” Gần 30 năm ‘đầu gối, tay ấp”, bà Nga đã quen với việc chồng đi biền biệt hết tháng này qua tháng khác chỉ tìm đến... đồ cổ. Đã có lúc, bà tưởng chừng như kiệt sức khi một mình gánh vác cả gia đình. Nhưng rồi, hai đứa con (một trai, một gái) trở thành động lực để bà Nga giữ tổ ấm đó với người chồng chỉ mải miết chạy theo đam mê.

“Yêu cổ vật hơn yêu vợ”

Đến giờ, ông Trường coi vợ mình (tên Nga) là “người phụ nữ yêu nhất”, nhưng vẫn bị xếp sau tình yêu với cổ vật. Hễ ai đó so sánh vợ và đồ cổ, ông thẳng thắn thừa nhận: “Yêu đồ cổ hơn yêu vợ”. Tôi hỏi: “Ông nói thế không sợ vợ buồn sao”? Ông cười lớn: “Bao nhiêu năm chung sống, tôi hiểu tính bà ấy rõ như lòng bàn tay. Với lại, cứ nói thẳng ra mới dễ sống được”.

Thời trẻ, bà Nga là con gái đẹp trong vùng, còn ông Trường được đánh giá là chàng trai hiền lành, chịu khó nhất nhì xã Chấn Hưng. Nhà ông Trường nghèo rách mồng tơi, vì thương mến, bà Nga đồng ý về làm dâu. Cuộc sống đạm bạc mà ấm cúng.

Rồi thú đam mê trỗi dậy, ông lấy cớ đi phun sơn tủ để... săn đồ cổ. Có năm, ông đi biền biệt, chỉ về nhà thăm vợ con mấy chuyến. Sinh con gái đầu, ông ở bên vợ đúng 28 ngày rồi xách túi đi luôn mấy tháng. Sinh con trai thứ hai, ông cũng không có mặt. Không biết chồng đi đâu, bà lo lắng tìm kiếm, hỏi han khắp nơi thì người ta bảo, thấy ông đang ở một tỉnh miền núi xa xôi phía Bắc. “Mãi sau này, ông ấy mới kể là lên Bân, lên Di, đi Na Hang... để tìm đồ cổ. Mang tiếng đi làm kiếm tiền nuôi vợ con, mà chẳng đưa được đồng nào về, còn bảo vợ vay tiền làm ăn mà thực ra là đi săn đồ cổ. Có lúc, tôi nghĩ cùng cực quá, người ta lấy chồng thì có chồng bên cạnh, còn mình thì chẳng khác gì đơn thân...”.

Ông còn cầm cố sổ đỏ vay được 8 triệu đồng với lãi 3%, qua 7 năm, số tiền đó tăng lên 30 triệu đồng, con trai ông phải đi làm để trả nợ cho bố. Mỗi lần thấy chồng về với hai bàn tay trắng, chỉ kèm theo vài cái bình, lọ, bát đĩa cũ, vợ ông thất vọng không nấu cơm, không quét dọn nhà cửa, khó chịu ra mặt. Có lần, một đại gia ở Vĩnh Yên định giá căn nhà mà ông đang ở với giá 800 triệu đồng nhưng ông không bán. “Tôi mà bán đi thì đúng là tôi bị bệnh thật rồi”, ông giải thích. “Bao nhiêu năm, tôi góp nhặt, nay chỉ vì tiền mà bán đi thì sao tôi làm được”. Vợ ông trêu: “Nhà nghèo, không bán thì lấy tiền đâu mà trả nợ”, ông cười lớn: “Nghèo quá, ta lấy từng mảnh đĩa trên tường để... dùng dần”.

Ông Trường gọi vợ là “cơn mưa bất chợt”, bởi bà là người ngăn cản ông nhiều nhất khi ông đi săn đồ cổ và thực hiện “thay đổi diện mạo” căn nhà suốt bao năm qua. Đã có nhiều nước mắt, có nhiều xung đột, có những lần hai vợ chồng đặt giường ngủ riêng... nhưng với bà Nga “chỉ vì ông ấy đam mê quá”, còn với ông Trường “vợ tôi tốt bụng và thương tôi lắm. Nhưng chỉ vì nghèo khó, mà chồng thì không giúp được gì, nên tính tình cũng cau có, lúc nắng lúc mưa”.

Người ta nhà ngói, cao tầng cứ mọc lên san sát nhờ chăm chỉ làm ăn, còn nhà bà vẫn vách đất, mái tôn bao nhiêu năm vẫn chưa có tiền xây sửa lại. Bà Nga xót xa, rồi cứ giận, trách móc, gàn ông. Với bà và những người dân trong vùng, cái mà ông coi là đồ cổ, chỉ là những chiếc bát đĩa, chum lọ cũ trong những năm gần đây, không có giá trị nhiều. Có người còn coi đó là rác. Nhưng nhìn chồng cứ mê mẩn với đồ ấy, bà không nỡ. “Ông ấy nói mà tôi thương: Kiếp này, em cố thương lấy anh. Kiếp sau, em đừng lấy những người như anh nữa. Tôi chỉ biết ôm mặt khóc ướt gối”, bà Nga ngậm ngùi.

Nhiều đêm, bà tủi thân mà khóc thầm. Càng cay đắng hơn khi bà nghe ông nói: “Thiếu vợ thì được chứ không thể thiếu đồ cổ”. Bà Nga giận ông cả tháng. Cấm cản không được, bà cứ mặc kệ, rồi cũng thành quen.

Phận đời lam lũ, bà cứ nhắc đến tiền, rồi chì chiết việc ông làm. Ông Trường lại bảo: “Tiền không phải là giá trị cuối cùng của cuộc đời”. Nhưng không có tiền, làm sao bà nuôi con, nuôi ông trong những chuyến biền biệt sớm hôm với sở thích đam mê? Mấy lần, ông bảo: “Giá trị của những đồ vật mà ông mang về là giá trị vĩnh hằng, để lại cho con cháu về sau”, nhưng với bà, nó chỉ là những “chiếc đĩa, chiếc bát vô tri, chỉ găm vào tường cho đẹp chứ không đổi thành sữa cho con được”. Có những lúc, bà nghĩ đến việc bỏ đi, nhưng rồi nghĩ đến hai đứa con đang tuổi ăn tuổi lớn, bà lại cố gắng giữ gìn mái ấm. Việc ông ông làm, việc bà bà lo. Thấy có khách đến xem mua đồ, bà mừng thầm. Nào ngờ, số tiền đó, ông đều để dành mua đồ cổ khác cất giữ trong nhà.

Giờ con gái ông đã lấy chồng, còn con trai có việc làm ổn định, công tác ở Lào Cai. Hai vợ chồng không còn quá lo toan đến cơm áo, gạo tiền. Bà Nga thở dài như trút được gánh nặng: “Lấy chồng có máu nghệ sĩ khổ lắm cô ạ. Sống lâu thành quen, giờ không có đồ cổ, lại thấy... nhớ nhớ”.

Hơn 30 năm chung sống, bà đã quen với sự nhẫn nhịn, chấp nhận số phận khi bén duyên với người đàn ông có máu nghệ sĩ. Bà cười: “Nói nhiều, khuyên can nhiều, trách móc nhiều mà không thể lay chuyển được, nên giờ tôi cứ mặc kệ ông ấy muốn làm gì thì làm, miễn sao ông cảm thấy vui vẻ”.

Trời đổ bóng nghiêng mình sau rặng trúc trước cửa nhà, những chiếc đĩa gắn trên tường trở nên bóng loáng, lấp lánh. Ông Trường tiếp tục công đoạn cuối cùng để gắn đĩa lên căn bếp phía sau. “Tôi chấp nhận mang tiếng là điên, là khùng để sống với đam mê của mình”, ông Trường nói dứt khoát.

Theo Xaluan

Các bài đã đăng: