09:44 | 05/12/2012

Về việc đề nghị phê duyệt chính sách tiếp tục hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn hộ nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015

BỘ XÂY DỰNG

Số: 79/TTr-BXD

 

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

Hà Nội, ngày 03 tháng 12 năm 2012

TỜ TRÌNH
Về việc đề nghị
phê duyệt chính sách tiếp tục hỗ trợ nhà ở
đối với hộ nghèo theo chuẩn hộ nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015
(Chương trình 167 giai đoạn 2)

Kính gửi: Thủ tướng Chính phủ

Ngày 12/12/2008, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở (sau đây gọi tắt là Quyết định 167) nhằm mục tiêu: cùng với việc thực hiện các chính sách thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo giai đoạn 2006-2010, Nhà nước trực tiếp hỗ trợ các hộ nghèo để có nhà ở ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống, góp phần xoá đói, giảm nghèo bền vững. Theo đó, trong thời gian từ 2009-2012, thực hiện hỗ trợ nhà ở cho trên 500.000 hộ nghèo có khó khăn về nhà ở đang cư trú tại khu vực nông thôn, đảm bảo cho khoảng gần 2,5 triệu người có nhà ở an toàn, ổn định.Trong quá trình thực hiện, xuất phát từ tình hình thực tế, theo đề nghị của các Bộ, ngành liên quan và các địa phương, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 67/2010/QĐ-TTg ngày 29/10/2010 (sau đây gọi tắt là Quyết định 67) về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 167 để bổ sung các hộ nghèo có khó khăn về nhà ở, đang cư trú tại các thôn, bản trực thuộc phường, thị trấn, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, sinh sống chủ yếu bằng nghề nông, lâm, ngư nghiệp cũng được hỗ trợ nhà ở theo cơ chế, chính sách quy định tại Quyết định 167.

Quá trình triển khai thực hiện Chính sách đã được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương cũng như các cấp uỷ Đảng, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các địa phương, đồng thời được sự đồng tình, ủng hộ rất cao của xã hội, người dân. Sau hơn 3 năm triển khai thực hiện, đến nay, các địa phương đã hoàn thành hỗ trợ nhà ở cho trên 515.000 hộ nghèo, đạt tỷ lệ 104% so với số hộ phê duyệt ban đầu, đạt 95,5% so với số hộ thực tế phải hỗ trợ sau khi các địa phương tiến hành rà soát điều chỉnh, bổ sung số hộ theo quy định.

Những kết quả đạt được trong triển khai thực hiện Chương trình đã mang lại hiệu quả rõ rệt, tạo điều kiện cho các hộ nghèo có nhà ở an toàn, ổn định, từng bước nâng cao mức sống, góp phần xoá đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Chương trình có ý nghĩa tổng hợp về kinh tế, chính trị, xã hội và nhân văn sâu sắc; được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của các tầng lớp nhân dân.Việc ban hành và tổ chức thực hiện có kết quả Chương trình đã củng cố niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Tuy nhiên, theo số liệu tổng hợp của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, thì hiện nay nước ta còn gần 2,6 triệu hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011-2015. Trong số các hộ nghèo nói trên thì số hộ có khó khăn về nhà ở còn khá lớn. Theo kết quả điều tra khảo sát thực tế và số liệu báo cáo của các địa phương thì hiện nay nước ta còn gần 510.000 hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011-2015 đang ở trong những căn nhà tạm bợ, dột nát hoặc chưa có nhà ở.

Việc hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo, đặc biệt là tại khu vực nông thôn được Chính phủ hết sức quan tâm và đã đề ra nhiều chủ trương, định hướng phát triển nhà ở cho số hộ nghèo có khó khăn về nhà ở. Ngày 19/5/2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020, trong đó tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo khu vực nông thôn, miền núi để cải thiện nhà ở. Ngày 30/11/2011, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 2127/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, trong đó đề ra nhiệm vụ giải quyết nhà ở cho các hộ nghèo khu vực nông thôn theo hướng tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ để các hộ gia đình có nhà ở ổn định, an toàn, từng bước nâng cao mức sống, góp phần xoá đói giảm nghèo bền vững.

Để thực hiện nhiệm vụ trên, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Xây dựng phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng Đề án hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011- 2015. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của Đề án sẽ xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, ban hành để thực hiện. Tại Hội nghị tổng kết Chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167 tại Bắc Ninh ngày 19/7/2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có ý kiến chỉ đạo về việc tiếp tục triển khai Chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167 giai đoạn 2, đồng thời giao Bộ Xây dựng rà soát, tiếp tục hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới. (Văn bản số 281/TB-VPCP ngày 03/8/2012 của Văn phòng Chính phủ Thông báo Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị tổng kết Chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167).

Thực hiện nhiệm vụ được giao, Bộ Xây dựng đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và các địa phương nghiên cứu, xây dựng Đề án và chính sách tiếp tục hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo. Bộ Xây dựng xin báo cáo Thủ tướng Chính phủ những nội dung chủ yếu của chính sách tiếp tục hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011- 2015 (Chương trình 167 giai đoạn 2) như sau:

I. NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH

Về cơ bản, cơ chế, chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011-2015 sẽ được thực hiện tương tự như cơ chế, chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo đang triển khai theo Quyết định 167 và Quyết định 67, vì cơ chế, chính sách này là phù hợp với thực tế; trong quá trình triển khai các địa phương rất ủng hộ, không có vướng mắc gì, chỉ có một số nội dung nhỏ cần điều chỉnh, đặc biệt là mức hỗ trợ và mức vay cần tăng lên để đảm bảo phù hợp hơn với giá cả hiện nay, cụ thể như sau:

1. Về đối tượng thụ hưởng chính sách

Tiêu chí quy định đối tượng thụ hưởng chính sách tương tự như quy định tại Quyết định 167 và Quyết định 67. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hỗ trợ nhà ở theo Quyết định 167 cho thấy có một số vấn đề cần sửa đổi, bổ sung để đảm bảo phù hợp với thực tế như sau:

a) Một số hộ nghèo có khó khăn về nhà ở nhưng mới được tách hộ, chủ hộ còn trẻ, có sức khoẻ nhưng cũng được hỗ trợ nhà ở, do đó trong cộng đồng còn có sự băn khoăn, so bì, không đồng tình với việc hỗ trợ ngay cho những đối tượng này, vì cho rằng không đảm bảo công bằng lại còn tạo cho các gia đình trẻ tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước, không tự cố gắng vươn lên thoát nghèo. Vì vậy, các địa phương đề nghị chỉ hỗ trợ cho những hộ nghèo, có khó khăn về nhà ở nhưng phải là hộ độc lập có thời gian tối thiểu từ 02 năm trở lên kể từ thời điểm tách hộ đến khi chính sách có hiệu lực thi hành.

b) Trước đây có nhiều hộ đã được hỗ trợ nhà ở theo các chính sách khác, nhưng do mức hỗ trợ thấp nên nhà ở không đảm bảo chất lượng (nhất là theo Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi tắt là Quyết định 134) Về chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn). Do đó, đa số các căn nhà chỉ sau khoảng thời gian sử dụng ngắn thì đã bị xuống cấp, hư hỏng, dột nát. Vì vậy, hầu hết các địa phương đều đề nghị hỗ trợ cho các đối tượng này để sửa chữa, nâng cấp nhà ở với mức thấp hơn so với những hộ được hỗ trợ lần đầu.

c) Một số hộ đã được hỗ trợ nhà ở theo các chính sách hỗ trợ nhà ở khác nhưng do thiên tai các loại như: bão, lũ, lụt, động đất, sạt lở đất, hoả hoạn... làm mất nhà ở hoặc nhà ở bị sập đổ, hư hỏng nặng không thể sử dụng được. Đối với các trường hợp này, các địa phương cũng đề nghị cần phải hỗ trợ theo chính sách này để họ có nhà ở an toàn (hiện nay đang hỗ trợ chung với mức 6 triệu đồng/hộ theo Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 của Chính phủ. Mức hỗ trợ này đối với hộ nghèo là quá thấp không đủ kinh phí xây dựng lại nhà).

d) Những hộ nghèo thuộc diện được hỗ trợ chòi phòng tránh lũ lụt theo Quyết định 716/QĐ-TTg ngày 14/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ (sau đây gọi tắt là Quyết định 716) nhưng do diện tích chòi nhỏ (khoảng 10 m2) không đủ sinh hoạt bình thường cho cả gia đình, nếu có khó khăn về nhà ở thì cũng đề nghị được hỗ trợ để họ cải thiện nhà ở với mức thấp hơn so với những hộ không thuộc đối tượng hỗ trợ xây dựng chòi phòng tránh lũ, lụt.

Để phù hợp với tình hình thực tế trên, Bộ Xây dựng đề nghị bổ sung tiêu chí quy định đối tượng được hỗ trợ nhà ở thuộc Chương trình 167 giai đoạn 2 như sau:

“Hộ nghèo thuộc diện đối tượng được hỗ trợ nhà ở phải là hộ độc lập có thời gian tối thiểu 02 năm tính từ thời điểm tách hộ đến khi chính sách có hiệu lực thi hành”.

“Hộ nghèo đã được hỗ trợ nhà ở theo các chính sách hỗ trợ nhà ở khác có thời gian từ 8 năm trở lên tính đến thời điểm Quyết định này có hiệu lực thi hành nhưng nay nhà ở đã hư hỏng, dột nát”.

“Hộ nghèo đã được hỗ trợ nhà ở theo các chính sách hỗ trợ nhà ở khác, nhưng nay đã bị mất nhà ở hoặc nhà ở bị sập đổ hoặc nhà ở bị hư hỏng nặng, có nguy cơ sập đổ do thiên tai gây ra như bão, lũ, lụt, động đất, sạt lở đất, hoả hoạn...”.

“Hộ nghèo thuộc diện được hỗ trợ xây dựng chòi phòng tránh lũ, lụt theo Quyết định 716 về việc triển khai thí điểm giải pháp hỗ trợ hộ nghèo nâng cao điều kiện an toàn chỗ ở, ứng phó với lũ, lụt vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung nhưng có khó khăn về nhà ở”.

2. Về quy định diện tích sử dụng tối thiểu

Theo quy định tại Quyết định 167 thì những căn nhà hỗ trợ phải có diện tích tối thiểu là 24 m2. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế có một số hộ chỉ có một khẩu duy nhất (hộ độc thân) không nơi nương tựa, có nhiều khó khăn hơn trong việc tham gia đóng góp để xây dựng nhà ở. Nhiều địa phương kiến nghị xây dựng nhà ở cho những đối tượng này có diện tích nhỏ hơn để đảm bảo phù hợp với khả năng huy động vốn. Bộ Xây dựng nhận thấy đây là kiến nghị phù hợp, vì vậy, đề nghị quy định: đối với những hộ độc thân không nơi nương tựa, có thể xây dựng nhà ở có diện tích sử dụng nhỏ hơn so với mức quy định chung nhưng không thấp hơn 18 m2 (là diện tích bình quân đầu người trong cả nước), nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng theo quy định chung.

3. Về mức hỗ trợ và mức vay

Tại thời điểm năm 2008 (năm ban hành Quyết định 167) thì giá thành căn nhà diện tích 24 m2, tuổi thọ từ 10 năm trở lên là khoảng 23-24 triệu đồng, trong đó chi phí vật liệu chính khoảng 15-16 triệu đồng, chi phí vật liệu phụ và nhân công khoảng 8 triệu đồng. Theo quy định tại Quyết định 167 thì Ngân sách nhà nước hỗ trợ 7,2 triệu đồng/hộ (riêng đối với những hộ cư trú tại vùng khó khăn theo Quyết định 30/2007/QĐ-TTgngày 05/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ(sau đây gọi tắt là Quyết định 30) thì Ngân sách Nhà nước hỗ trợ với mức 8,4 triệu đồng/hộ), Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay với mức 8 triệu đồng/hộ. Phần còn lại do hộ gia đình tham gia đóng góp và sự ủng hộ, giúp đỡ của cộng đồng. Như vậy, tỷ lệ huy động vốn để thực hiện như sau:

- Ngân sách nhà nước (gồm Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương) hỗ trợ khoảng 1/3 giá thành căn nhà;

- Vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội khoảng 1/3 giá thành căn nhà;

- Hộ gia đình đóng góp và huy động sự giúp đỡ từ cộng đồng khoảng 1/3 giá thành căn nhà.

Hiện nay, giá vật liệu xây dựng đã tăng nhiều so với năm 2008 là thời điểm xây dựng định mức hỗ trợ theoQuyết định 167. Cụ thể, theo Quyết định số 950/QĐ-BXD ngày 31/10/2011 của Bộ Xây dựng Về việc công bố chỉ số giá xây dựng tháng 7, tháng 8, tháng 9 và quý III/2011 thì sau 5 năm (từ năm 2006 -2011), giá vật liệu tăng trung bình 80%, bình quân mỗi năm tăng 16%. Như vậy, sau 4 năm (từ 2008 đến năm 2012), giá vật liệu xây dựng tăng 64%. Ngoài ra, chi phí nhân công cũng tăng so với thời điểm năm 2008. Như vậy, mức hỗ trợ và mức vay theo quy định của Quyết định 167 đến nay không còn phù hợp, thấp nhiều so với thực tế, nhất là tại những huyện nghèo và những xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn. Tại Hội nghị trực tuyến sơ kết 03 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 và triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2012, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đã chỉ rõ: mức hỗ trợ của chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo còn thấp, chưa đầy đủ, chưa hợp lý là một trong những khó khăn, vướng mắc, tồn tại trong thực hiện chính sách giảm nghèo. (Văn bản số 14/TB-VPCP ngày 12/01/2012 của Văn phòng Chính phủ). Vì vậy, chính sách mới cần phải điều chỉnh mức hỗ trợ và mức vay phù hợp với hệ số trượt giá, nhất là hệ số trượt giá vật liệu xây dựng để căn nhà có diện tích và chất lượng đảm bảo như quy định tại Quyết định 167.

Theo tính toán, tại thời điểm hiện nay, để xây dựng căn nhà có diện tích tối thiểu 24 m2, tuổi thọ 10 năm trở lên thì chi phí vật liệu và nhân công khoảng 36 - 37 triệu đồng, trong đó chi phí vật liệu chính khoảng 24-25 triệu đồng, chi phí vật liệu phụ và nhân công khoảng 12 triệu đồng.

Quá trình thực hiện Quyết định 167 cho thấy, việc thực hiện cơ chế huy động vốn: Ngân sách Nhà nước hỗ trợ khoảng 1/3, vay vốn ưu đãi khoảng 1/3, người dân đóng góp và huy động từ cộng đồng khoảng 1/3 so với giá thành căn nhà là phù hợp với thực tế và có tính khả thi. Vì vậy, đề nghị cho phép tiếp tục áp dụng tỷ lệ huy động vốn nói trên trong việc xây dựng chính sách hỗ trợ nhà ở đối với các hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011-2015.

Ngoài ra, trên thực tế có những hộ đang cư trú tại vùng khó khăn theo Quyết định 30 do điều kiện giao thông thấp kém, đi lại khó khăn nên tại những nơi này việc xây dựng nhà phải tốn rất nhiều công sức, chi phí cho công tác vận chuyển vật liệu so với những nơi khác, nhất là đối với những hộ cư trú tại các thôn, bản đặc biệt khó khăn. Vì vậy, tất cả các địa phương đều nhất trí đề nghị hỗ trợ bổ sung thêm từ Ngân sách nhà nước cho những hộ cư trú tại các vùng khó khăn theo Quyết định 30 với mức 2 triệu đồng/hộ, và hỗ trợ bổ sung 4 triệu đồng/hộ đối với những hộ đang cư trú tại các thôn, bản đặc biệt khó khăn.

Nếu theo cơ chế Ngân sách nhà nước hỗ trợ khoảng 1/3 giá thành căn nhà thì mức hỗ trợ từ Ngân sách nhà nước khoảng 12 triệu đồng/hộ. Tuy nhiên, hiện nay, Nhà nước đang có khó khăn về ngân sách nên đề nghị mức hỗ trợ từ vốn ngân sách nhà nước là 10 triệu đồng/hộ, phần giảm 2 triệu đồng/hộ sẽ được thay bằng vốn vay ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội để đảm bảo kinh phí tối thiểu có thể xây dựng được căn nhà có diện tích và chất lượng quy định. Như vậy, mức hỗ trợ, mức vay ưu đãi và phần đóng góp của hộ dân và huy động từ cộng đồng như sau:

- Ngân sách nhà nước hỗ trợ với mức 10 triệu đồng/hộ (những hộ cư trú tại vùng khó khăn theo Quyết định 30 thì Ngân sách nhà nước hỗ trợ với mức 12 triệu đồng/hộ, những hộ cư trú tại các thôn, bản đặc biệt khó khăn thì Ngân sách nhà nước hỗ trợ với mức 14 triệu đồng/hộ).

- Đối với những hộ đã được hỗ trợ nhà ở theo các chính sách khác nhưng nhà ở bị hư hỏng, xuống cấp thì Ngân sách nhà nước hỗ trợ với mức 5 triệu đồng/hộ; đối với những hộ có nhà ở đã bị sập đổ do thiên tai thì thì Ngân sách nhà nước hỗ trợ 10 triệu đồng/hộ; đối với những hộ khu vực miền Trung thuộc diện được hỗ trợ chòi phòng tránh lũ, lụt theo Quyết định 716 nhưng có khó khăn về nhà ở thì Ngân sách nhà nước hỗ trợ với mức 5 triệu đồng/hộ.

- Tất cả những hộ thuộc diện đối tượng nêu trên nếu có nhu cầu thì được vay ưu đãi với mức tối đa 15 triệu đồng/hộ.

- Ngoài vốn Ngân sách nhà nước và vốn vay thì các hộ gia đình tham gia đóng góp và huy động từ cộng đồng khoảng 12 triệu đồng/hộ.

4. Về cơ chế hỗ trợ từ Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương

a) Về nguồn vốn

Theo Quyết định 167 thì các địa phương có trách nhiệm bố trí vốn đối ứng từ Ngân sách địa phương không dưới 20% so với mức hỗ trợ từ Ngân sách trung ương và Ngân sách trung ương cấp bổ sung vốn đối ứng cho các địa phương theo tỷ lệ khác nhau, tuỳ theo mức độ có khó khăn về ngân sách của từng tỉnh (phải nhận bổ sung cân đối từ Ngân sách trung ương).

Để cơ chế, chính sách hỗ trợ nhà ở đảm bảo thống nhất với nguyên tắc hỗ trợ của các chính sách an sinh xã hội hiện nay, đồng thời để nâng cao trách nhiệm của chính quyền các địa phương, đề nghị mức hỗ trợ từ Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương như sau:

- Ngân sách trung ương hỗ trợ 100% so với mức quy định đối với những địa phương có khó khăn về ngân sách phải nhận bổ sung cân đối từ Ngân sách trung ương trên 70% dự toán chi cân đối Ngân sách địa phương năm 2012. (Theo Quyết định 167, Ngân sách trung ương đang hỗ trợ toàn bộ, kể cả phần vốn đối ứng của địa phương là 20% so với mức hỗ trợ từ Ngân sách trung ương).

- Ngân sách trung ương hỗ trợ 95%, Ngân sách địa phương hỗ trợ 5% so với mức quy định đối với những địa phương có khó khăn về ngân sách, phải nhận bổ sung cân đối từ Ngân sách trung ương từ 50% - 70% dự toán chi cân đối Ngân sách địa phương năm 2012. (Theo Quyết định 167, ngoài mức vốn thuộc trách nhiệm của Trung ương cấp thì Ngân sách trung ương cũng đang phải hỗ trợ 15% trong tổng số 20% là phần vốn đối ứng của địa phương. Ngân sách địa phương chỉ phải cấp 5% của phần vốn đối ứng theo quy định).

- Ngân sách trung ương hỗ trợ 90%, Ngân sách địa phương hỗ trợ 10% so với mức quy định đối với những địa phương có khó khăn về ngân sách, phải nhận bổ sung cân đối từ Ngân sách trung ương dưới 50% dự toán chi cân đối Ngân sách địa phương năm 2012. (Theo Quyết định 167, ngoài mức vốn thuộc trách nhiệm của Trung ương cấp thì Ngân sách trung ương cũng đang hỗ trợ 10% trong tổng số 20% là phần vốn đối ứng của địa phương. Ngân sách địa phương chỉ phải cấp 10% của phần vốn đối ứng theo quy định).

- Ngân sách trung ương hỗ trợ 80%, Ngân sách địa phương hỗ trợ 20% so với mức quy định đối với những địa phương điều tiết các khoản thu phân chia về Ngân sách trung ương. (Theo Quyết định 167, ngoài mức vốn của Trung ương cấp thì Ngân sách trung ương chỉ hỗ trợ theo mức quy định, còn toàn bộ số vốn đối ứng 20% của địa phương đều do Ngân sách địa phương cấp).

Theo kết quả tính toán thì tỷ lệ hỗ trợ từ nguồn Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương mà Bộ Xây dựng đề xuất nói trên cũng tương đương với tỷ lệ hỗ trợ từ nguồn Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương đang thực hiện theo Quyết định 167.

Ngoài vốn hỗ trợ từ Ngân sách nhà nước và vốn vay ưu đãi theo mức chung, cần quy định các tỉnh, thành phố căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương, thực hiện hỗ trợ thêm từ Ngân sách địa phương để nâng cao chất lượng nhà ở cho các hộ gia đình (trong quá trình triển khai thực hiện Quyết định 167, nhiều địa phương cũng đã hỗ trợ thêm cho các hộ gia đình, do đó các căn nhà được hỗ trợ đều đảm bảo chất lượng và diện tích quy định).

b) Mức vay

Hộ dân có nhu cầu, được vay tín dụng từ Ngân hàng Chính sách xã hội để làm nhà ở. Mức vay tối đa 15 triệu đồng/hộ, lãi suất vay 3%/năm. Thời hạn vay là 10 năm, trong đó thời gian ân hạn là 5 năm. Thời gian trả nợ là 5 năm, mức trả nợ mỗi năm tối thiểu là 20% tổng số vốn đã vay.

5. Về số lượng hộ nghèo cần hỗ trợ và tính toán tổng vốn hỗ trợ và vốn vay

a) Số lượng:

Theo số liệu báo cáo của các địa phương và kết quả tính toán tổng hợp chung thì hiện nay có khoảng 510.000 (làm tròn) hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011-2015 có khó khăn về nhà ở, trong đó:

- Số hộ chưa được hỗ trợ nhà ở theo các chính sách hỗ trợ nhà ở khác: khoảng 345.000 hộ;

- Số hộ đã được hỗ trợ nhà ở theo các chính sách hỗ trợ nhà ở khác, nhưng nay nhà ở đã bị mất, bị sập đổ hoặc nhà ở bị hư hỏng nặng, có nguy cơ sập đổ do thiên tai gây ra: khoảng 15.000 hộ;

- Số hộ đã được hỗ trợ nhà ở theo các chính sách hỗ trợ nhà ở khác, tính đến nay có thời gian hỗ trợ từ 8 năm trở lên, nhưng nay nhà ở đã hư hỏng, dột nát: khoảng 150.000 hộ;

- Số hộ thuộc đối tượngđược hỗ trợ xây dựng chòi phòng tránh lũ, lụt theo Quyết định 716 nhưng có khó khăn về nhà ở: 700 hộ.

Theo số liệu báo cáo của các địa phương thì trong số 510.000 hộ nghèo cần được hỗ trợ nhà ở nói trên có khoảng 47% cư trú tại vùng không khó khăn (tương đương 241.400 hộ), khoảng 25% số hộ cư trú tại vùng khó khăn theo Quyết định 30(tương đương 126.100 hộ) và khoảng 28% số hộ cư trú tại các thôn (bản) đặc biệt khó khăn (tương đương 143.200 hộ).

Như vậy, số hộ theo đối tượng và số hộ theo từng vùng (không khó khăn, khó khăn và đặc biệt khó khăn) như sau:

Đơn vị tính: Hộ

TT

Đối tượng

Tổng số

Số hộ không thuộc vùng khó khăn

Số hộ thuộc vùng khó khăn

(theo QĐ 30/2007/

QĐ-TTg)

Số hộ thuộc thôn (bản) đặc biệt khó khăn

1

Số hộ chưa được hỗ trợ lần nào theo các chính sách hỗ trợ nhà ở khác

345.000

163.000

85.200

96.800

2

Số hộ đã được hỗ trợ (có thời gian từ 8 năm trở lên) nhưng nhà ở đã bị hư hỏng, dột nát

150.000

71.000

37.000

42.000

3

Số hộ đã được hỗ trợ nhưng nhà ở đã bị mất, sập đổ hoặc hư hỏng nặng do thiên tai gây ra

15.000

7.100

3.700

4.200

4

Số hộ thuộc đối tượng được hỗ trợ chòi phòng tránh lũ, lụt theo QĐ 716/QĐ-TTg nhưng có khó khăn về nhà ở.

700

300

200

200

 

Cộng

510.700

241.400

126.100

143.200

b) Tính toán số vốn hỗ trợ từ Ngân sách nhà nước và vốn vay ưu đãi

Căn cứ mức hỗ trợ, mức vay đề xuất và căn cứ số hộ thuộc diện đối tượng xác định nói trên, thì tổng vốn Ngân sách nhà nước hỗ trợ và vốn vay ưu đãi như sau:

b1) Vốn Ngân sách nhà nước hỗ trợ.

- Đối với số hộ chưa được hỗ trợ lần nào theo các chính sách hỗ trợ nhà ở khác:

TT

Nơi cư trú

Số lượng (hộ)

Mức hỗ trợ (triệu đồng/hộ)

Thành tiền (triệu đồng)

1

Không thuộc vùng khó khăn

163.000

10

1.630.000

2

Thuộc vùng khó khăn (theo QĐ 30/2007/QĐ-TTg)

85.200

12

1.022.400

3

Thuộc thôn, bản đặc biệt khó khăn

96.800

14

1.355.200

 

Cộng

345.000

 

4.007.600

- Đối với số hộ đã được hỗ trợ nhưng nhà ở đã bị mất, sập đổ do thiên tai:

TT

Nơi cư trú

Số lượng (hộ)

Mức hỗ trợ (triệu đồng/hộ)

Thành tiền (triệu đồng)

1

Không thuộc vùng khó khăn

7.100

10

71.000

2

Thuộc vùng khó khăn (theo QĐ 30/2007/QĐ-TTg)

3.700

12

44.400

3

Thuộc thôn, bản đặc biệt khó khăn

4.200

14

58.800

 

Cộng

15.000

 

174.200

- Đối với số hộ đã được hỗ trợ nhà ở theo các chính sách khác nhưng nhà ở đã bị hư hỏng, xuống cấp:

TT

Nơi cư trú

Số lượng (hộ)

Mức hỗ trợ (triệu đồng/hộ)

Thành tiền (triệu đồng)

1

Không thuộc vùng khó khăn

71.000

5

355.000

2

Thuộc vùng khó khăn (theo QĐ 30/2007/QĐ-TTg)

37.000

6

222.000

3

Thuộc thôn, bản đặc biệt khó khăn

42.000

7

294.000

 

Cộng

150.000

 

871.000

- Đối với số hộ thuộc đối tượng được hỗ trợ chòi phòng tránh lũ, lụt theo Quyết định 716 nhưng có khó khăn về nhà ở:

TT

Nơi cư trú

Số lượng (hộ)

Mức hỗ trợ (triệu đồng/hộ)

Thành tiền (triệu đồng)

1

Không thuộc vùng khó khăn

300

5

1.500

2

Thuộc vùng khó khăn (theo QĐ 30/2007/QĐ-TTg)

200

6

1.200

3

Số hộ thuộc thôn, bản đặc biệt khó khăn

200

7

1.400

 

Cộng

700

 

4.100

Tổng cộng vốn Ngân sách Nhà nước: 5.052.800 triệu đồng

Căn cứ đề xuất tỷ lệ vốn cấp từ Ngân sách trung ương và Ngân sách địa phương, đồng thời căn cứ kết quả hỗ trợ theo Quyết định 167 thì tỷ lệ Ngân sách trung ương chiếm khoảng 93,5%, tỷ lệ Ngân sách địa phương chiếm khoảng 6,5% so với tổng số vốn hỗ trợ từ Ngân sách nhà nước. Vì vậy, dự kiến Ngân sách trung ương hỗ trợ khoảng: 4.724.400 triệu đồng, Ngân sách địa phương hỗ trợ khoảng: 328.400 triệu đồng.

b2) Vốn vay ưu đãi:

Với mức vay 15 triệu đồng/hộ thì cần khoảng 7.660.000 triệu đồng.

c) Ngoài ra, vốn huy động từ cộng đồng và đóng góp của hộ gia đình khoảng 6.128.000 triệu đồng.

6. Về thời gian và tiến độ thực hiện

Để phù hợp với thực tế, đề nghị thời gian và tiến độ thực hiện như sau:

- Sau 02 tháng kể từ khi Chính sách được ban hành, các địa phương phải thực hiện xong các công tác chuẩn bị như bình xét đối tượng, lập và phê duyệt Đề án hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở trên địa bàn...;

- Thời gian tổ chức triển khai thực hiện là 03 năm kể từ ngày Quyết định có hiệu lực thi hành;

- Tổ chức tổng kết, đánh giá thực hiện Chương trình chậm nhất sau 3 tháng kể từ ngày hoàn thành Chương trình.

7. Về tổ chức thực hiện

Quy định trách nhiệm của các Bộ, ngành Trung ương và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong tổ chức triển khai thực hiện Chương trình như quy định tại Quyết định 167. Ngoài ra, bổ sung nhiệm vụ của Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong việc chỉ đạo các cấp bộ Đoàn trong cả nước tham gia vận động các tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng ủng hộ, giúp đỡ và tham gia xây dựng nhà ở cho các hộ nghèo; đồng thời phối hợp với chính quyền địa phương xây dựng nhà ở cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn (già cả, neo đơn, tàn tật…).

Riêng đối với kinh phí cho hoạt động của Ban Điều phối để chỉ đạo thực hiện Chương trình thì Bộ Xây dựng có trách nhiệm xây dựng dự toán hàng năm làm cơ sở để Ngân sách trung ương cấp bổ sung vào kinh phí hoạt động thường xuyên của Bộ Xây dựng.

II. GIẢI TRÌNH, TIẾP THU Ý KIẾN GÓP Ý CỦA CÁC BỘ NGÀNH LIÊN QUAN

Tại Hội nghị toàn quốc tổng kết Chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167tại Bắc Ninh ngày 19/7/2012, Bộ Xây dựng đã gửi Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chính sách tiếp tục hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011 - 2015 để các địa phương nghiên cứu và có ý kiến góp ý về cơ chế, chính sách.Hầu hết các ý kiến đều nhất trí với nội dung Dự thảo. Riêng về mức hỗ trợ, một số địa phương đề nghị cần nghiên cứu, xem xét hỗ trợ ở mức cao hơn so với mức đề xuất của Bộ Xây dựng để đảm bảo chất lượng nhà ở.

Để hoàn chỉnh Đề án, Dự thảo Tờ trình và Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chính sách tiếp tục hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở (Chương trình 167 giai đoạn 2), Bộ Xây dựng đã có công văn đề nghị các Bộ, ngành liên quan có ý kiến góp ý chính thức bằng văn bản đối với các Dự thảo văn bản nói trên: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Tư pháp, Uỷ ban Dân tộc, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Chính sách xã hội, Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Trung ương Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Đến nay, Bộ Xây dựng đã nhận được đủ văn bản góp ý của các Bộ, ngành.

Tổng hợp ý kiến góp ý của các Bộ, ngành như sau:

1. Tất cả các văn bản góp ý của các Bộ, ngành đều thống nhất sự cần thiết và cơ bản thống nhất nội dung của các dự thảo văn bản (Đề án, Tờ trình, Quyết định) do Bộ Xây dựng soạn thảo gửi lấy ý kiến.

2. Về một số ý kiến góp ý của các Bộ, ngành, Bộ Xây dựng xin tiếp thu và giải trình như sau:

a) Về đối tượng hỗ trợ:

- Một số ý kiến đề nghị chỉ hỗ trợ cho các hộ nghèo đã được tách hộ có thời gian tối thiểu là 02 năm để tránh sự ỷ lại, lợi dụng chính sách của Nhà nước (thay vì 01 năm như đề xuất của Bộ Xây dựng trước đây). Bộ Xây dựng đã tiếp thu.

- Một số ý kiến đề nghị đối với những hộ đã được hỗ trợ nhà ở theo các chính sách hỗ trợ nhà ở khác nhưng do mức hỗ trợ thấp nên nay nhà ở đã hư hỏng thì nay cũng được hỗ trợ với điều kiện nhà ở đã xây dựng được 8 năm tính từ thời điểm được hỗ trợ (thay vì 10 năm như đề xuất của Bộ Xây dựng trước đây). Bộ Xây dựng đã tiếp thu.

- Đối với những hộ nghèo đã được hỗ trợ nhà ở theo các chính sách hỗ trợ nhà ở khác nhưng nay đã bị mất nhà ở, hoặc nhà ở bị sập đổ, hư hỏng nặng, có nguy cơ sập đổ do thiên tai gây ra như bão, lũ, động đất, sạt lở đất, hoả hoạn…, Bộ Tài chính đề nghị không mở rộng những đối tượng này vì sẽ dẫn đến tình trạng liên tục phát sinh đối tượng và có thể xảy ra trường hợp đối tượng được thụ hưởng nhiều chính sách. Bộ Xây dựng nhận thấy những đối tượng này không nhiều và thực tế do bị thiên tai mà nhà ở đã bị mất, sập đổ nên họ đang gặp rất nhiều khó khăn, nhất là đối với những hộ nghèo; do vậy, Bộ Xây dựng đề nghị cần thiết phải hỗ trợ cho những hộ nghèo xây dựng lại nhà ở theo mức như đã đề xuất nêu trên. Các đối tượng không phải là hộ nghèo thì thực hiện theo Nghị định 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 của Chính phủ.

- Bộ Tài chính đề nghị nghiên cứu bổ sung quy định đối với hộ nghèo được hỗ trợ xây dựng chòi phòng tránh lũ, lụt theo Quyết định 716 thì không được hưởng chính sách theo quy định hoặc ngược lại, tránh trường hợp một hộ được hưởng 02 chính sách.

Về vấn đề này, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau: Theo Quyết định 716 thì quy mô diện tích chòi phòng tránh lũ, lụt khoảng 10 m2, không đủ diện tích để ở cho các gia đình, nhất là đối với những hộ nghèo có nhiều người. Vì vậy, đề nghị Ngân sách trung ương hỗ trợ cho những đối tượng này nhưng phải là hộ có khó khăn về nhà ở với mức hỗ trợ bằng 50% so với những đối tượng chưa được hỗ trợ nhà ở.

b) Về phạm vi áp dụng

Có ý kiến đề nghị áp dụng cho các đối tượng là hộ nghèo cư trú tại các tổ dân phố, khu phố, khóm trực thuộc phường, thị trấn (là khu vực đô thị).

Bộ Xây dựng có ý kiến như sau: Việc đầu tư xây dựng một căn nhà ở cho nhân dân tại khu vực đô thị khác nhiều so với đầu tư xây dựng một căn nhà ở cho nhân dân tại khu vực nông thôn, nhất là về kinh phí đầu tư, cần phải có số vốn rất lớn thì mới làm được. Ngoài ra, đối với các hộ dân sinh sống trong khu vực đô thị thì với mức hỗ trợ như đề xuất trên sẽ rất khó khăn trong việc cải thiện nhà ở. Hiện nay, Bộ Xây dựng đang triển khai xây dựng Nghị định của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội, trong đó đã có cơ chế, chính sách về phát triển nhà ở cho các hộ nghèo, hộ thu nhập thấp tại khu vực đô thị mua, thuê, thuê mua với giá phù hợp. Để không bị chồng chéo các chính sách, đồng thời để phù hợp với thực tế, đề nghị chính sách 167 giai đoạn 2 không quy định áp dụng đối với những hộ nghèo sinh sống tại các tổ dân phố, khu phố, khóm thuộc phường, thị trấn là khu vực đô thị.

c) Về mức hỗ trợ

Bộ Tài chính đề nghị mức hỗ trợ cho từng trường hợp cụ thể như sau:

- Đối với những hộ có khó khăn về nhà ở mà chưa được hỗ trợ lần nào thì Ngân sách nhà nước hỗ trợ với mức 10 triệu đồng/hộ; hộ cư trú ở vùng khó khăn theo Quyết định 30 thì được hỗ trợ với mức 12 triệu đồng/hộ; hộ cư trú ở các thôn, bản đặc biệt khó khăn thì được hỗ trợ với mức 14 triệu đồng/hộ (thay vì với các mức 12 triệu, 14 triệu, 16 triệu như đề xuất trước đây của Bộ Xây dựng).

- Đối với những hộ đã được hỗ trợ nhà ở theo các chính sách khác nhưng nay nhà ở đã xuống cấp hư hỏng thì được hỗ trợ với mức 5 triệu đồng/hộ.

Bộ Xây dựng nhận thấy ý kiến góp ý của Bộ Tài chính là phù hợp với thực tế, Bộ Xây dựng đã tiếp thu. Tuy nhiên, để đảm bảo đủ kinh phí xây dựng căn nhà đảm bảo diện tích và chất lượng quy định, đề nghị tăng mức cho vay ưu đãi lên 15 triệu đồng/hộ (thay vì cho vay với mức 13 triệu đồng/hộ như đề xuất trước đây cửa Bộ Xây dựng).

d) Về nguồn vốn hỗ trợ

- Bộ Tài chính đề nghị Ngân sách trung ương hỗ trợ 100% nhu cầu kinh phí cho các địa phương chưa tự cân đối được ngân sách và tỉnh Quảng Ngãi; Ngân sách trung ương hỗ trợ 50% nhu cầu kinh phí cho các địa phương có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách trung ương dưới 50%; các địa phương còn lại, Ngân sách địa phương tự đảm bảo.

Về vấn đề này, Bộ Xây dựng xin giải trình như sau: Để đảm bảo sự thống nhất về việc đảm bảo các nguồn vốn thực hiện, đề nghị việc đảm bảo nguồn vốn hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011-2015 cần thực hiện tương tự như đã thực hiện hỗ trợ nhà ở cho các hộ nghèo theo Quyết định 167. Hơn nữa, nếu thực hiện theo ý kiến góp ý của Bộ Tài chính thì đối với những tỉnh phải nhận bổ sung cân đối từ Ngân sách trung ương với tỷ lệ lớn sẽ có nhiều khó khăn so với những tỉnh phải nhận bổ sung cân đối từ Ngân sách trung ương với tỷ lệ thấp. Vì vậy, đề nghị thực hiện quy định về tỷ lệ Ngân sách trung ương hỗ trợ như đề xuất của Bộ Xây dựng.

- Bộ Tư pháp đề nghị chỉ nên căn cứ vào dự toán chi ngân sách địa phương hàng năm để xác định nguồn vốn hỗ trợ vì nếu chỉ căn cứ vào dự toán chi ngân sách địa phương của năm 2012 để xác định mức hỗ trợ cho những năm tiếp theo là không phù hợp.

Bộ Xây dựng thấy rằng trong thời gian 3 năm (là thời gian dự kiến thực hiện Chính sách), nếu như dự toán chi ngân sách địa phương của các tỉnh có thay đổi cũng sẽ không lớn, hơn nữa tỷ lệ bù phần vốn đối ứng của các địa phương cũng không nhiều, vì vậy, để thuận lợi cho việc lập kế hoạch vốn cũng như hàng năm không phải chờ đợi tính toán, điều chỉnh lại tỷ lệ bù vốn đối ứng thì các địa phương mới tiếp tục triển khai được, do vậy, đề nghị giữ nguyên quy định như Bộ Xây dựng đề xuất.

- Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề nghị không hỗ trợ từ Ngân sách trung ương mà chỉ cho vay ưu đãi và huy động vốn từ Ngân sách địa phương và huy động từ cộng đồng để thực hiện.

Qua kết quả điều tra khảo sát và báo cáo của các địa phương cho thấy: hầu hết những tỉnh nghèo, có khó khăn về ngân sách lại là những địa phương có nhiều hộ nghèo. Nếu như không có sự hỗ trợ từ Ngân sách trung ương thì các địa phương này sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện hỗ trợ cải thiện nhà ở cho các hộ nghèo. Hơn nữa, trong giai đoạn hiện nay, việc huy động thêm nguồn lực từ cộng đồng, nhất là huy động từ các doanh nghiệp cũng đang gặp nhiều khó khăn. Mặt khác, thực tế cho thấy, có một bộ phận hộ nghèo lại không muốn vay hoặc không muốn vay nhiều vì lo lắng không có khả năng trả nợ. Vì vậy, trong điều kiện hiện nay, sự hỗ trợ từ Ngân sách trung ương là rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp hộ nghèo có nhà ở an toàn, ổn định, góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Hơn nữa, khi thực hiện Quyết định 167 mức hỗ trợ từ Ngân sách Nhà nước chiếm khoảng 1/3 giá thành căn nhà, tuy nhiên, căn cứ điều kiện thực tế hiện nay, Bộ Xây dựng đã tiếp thu và thống nhất với Bộ Tài chính đề nghị giảm mức hỗ trợ từ Ngân sách Nhà nước xuống dưới mức 1/3 giá thành căn nhà, đồng thời đề nghị tăng mức vay tương ứng với mức giảm từ Ngân sách nhà nước. Vì vậy, đề nghị giữ nguyên mức hỗ trợ như đề nghị của Bộ Xây dựng và Bộ Tài chính như nêu trên.

đ) Về thời gian tiến độ thực hiện:

- Bộ Tư pháp đề nghị cân nhắc, tập trung vào một Điều quy định về thời gian, tiến độ thực hiện để dễ theo dõi và thực hiện. Về vấn đề này, Bộ Xây dựng đã tiếp thu, sửa lại thời gian và tiến độ cho phù hợp.

- Bộ Tài chính đề nghị chưa trình Chính sách vào thời điểm này hoặc nếu có trình thì đề nghị thực hiện từ năm 2014 vì Nhà nước có khó khăn về ngân sách. Bộ Xây dựng thấy rằng: tuy kinh tế, ngân sách nhà nước hiện nay đang gặp nhiều khó khăn, nhưng giải quyết vấn đề an sinh xã hội, tập trung giảm nghèo bền vững đang được cả xã hội quan tâm, người dân đang trông chờ, Đảng, Quốc hội, Chính phủ đang khẩn trương, tập trung giải quyết (Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ) và Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo sớm trình Đề án để triển khai thực hiện. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng đã khẩn trương hoàn thiện để trình theo đúng yêu cầu. Mặt khác, nếu không triển khai nhanh thì giá vật liệu xây dựng sẽ lại càng tăng cao, đòi hỏi mức hỗ trợ, mức vay, mức huy động tăng lên sẽ càng khó khăn cho việc hỗ trợ. Vì vậy, đề nghị thực hiện hỗ trợ ngay từ năm 2013.

e) Ngân hàng Chính sách xã hội đề nghị Ngân sách trung ương cấp 70% trên tổng số vốn cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội, 30% còn lại do Ngân hàng Chính sách xã hội huy động.

Về vấn đề này, Bộ Xây dựng nhận thấy: các chính sách cho vay ưu đãi làm nhà ở như cho vay làm nhà ở đối với các hộ dân vào ở trong các cụm, tuyến dân cư vùng ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long, cho vay làm nhà ở theo Quyết định 167 đều thực hiện cơ chế: Ngân sách trung ương cấp 50% trên tổng số vốn cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội, 50% còn lại do Ngân hàng Chính sách xã hội huy động. Bộ Tài chính cũng đồng ý tiếp tục thực hiện cơ chế này. Để đảm bảo yêu cầu nhất quán của cơ chế, chính sách, đề nghị giữ nguyên như đề xuất của Bộ Xây dựng.

g) Bộ Tư pháp đề nghị làm rõ tiêu chuẩn, định mức áp dụng cho các hoạt động: chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách từ nguồn chi thường xuyên được giao hàng năm cho Bộ Xây dựng.

Bộ Xây dựng xin tiếp thu. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn, định mức cho các hoạt động nói trên sẽ được thể hiện trong nội dung dự toán mà Bộ Xây dựng sẽ lập để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

h) Về trách nhiệm của các Bộ, ngành Trung ương: Bộ Xây dựng thống nhất bổ sung trách nhiệm của các Bộ, ngành Trung ương đảm bảo phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của các Bộ, ngành, cụ thể như sau:

Ngày 18/7/2012 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 30/2012/QĐ-TTg về tiêu chí xác định thôn đặc biệt khó khăn, xã thuộc vùng dân tộc và miền núi giai đoạn 2012 - 2015 nhưng hiện nay chưa có văn bản pháp lý công nhận những thôn, bản nào thuộc diện đặc biệt khó khăn theo tiêu chí quy định tại Quyết định trên, vì vậy, đề nghị bổ sung trách nhiệm của Uỷ ban Dân tộc hướng dẫn các địa phương xác định các thôn, bản đặc biệt khó khăn.

Bộ Tài chính đề nghị bỏ nội dung:’’Hướng dẫn các địa phương công tác lập dự toán, quản lý, cấp phát, thanh toán, quyết toán nguồn vốn hỗ trợ’’. Bộ Xây dựng nhận thấy: đây là những nội dung thuộc trách nhiệm cần có hướng dẫn cụ thể của Bộ Tài chính để các địa phương thực hiện theo đúng quy định. Trường hợp Bộ Tài chính cùng các Bộ, ngành liên quan tham gia xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện chính sách thì có thể đưa nội dung hương dẫn trên vào Thông tư liên tịch. Vì vậy, đề nghị giữ nguyên nội dung này trong Dự thảo Quyết định.

i) Về các ý kiến góp ý khác: Ngoài các ý kiến góp ý trên, đối với các ý kiến khác như: tên Quyết định; bổ sung nội dung hoặc bỏ nội dung không phù hợp; quy định thời gian được chuyển nhượng nhà ở; chỉnh sửa câu, từ v.v… Bộ Xây dựng tiếp thu và đã chỉnh sửa trong nội dung các Dự thảo văn bản.

III. KIẾN NGHỊ

1. Đề nghị Thủ tướng Chính phủ xém xét, ban hành chính sách tiếp tục hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo (Chương trình 167 giai đoạn 2) để thực hiện.

2. Đối với các hộ thuộc diện cận nghèo có khó khăn về nhà ở cũng đang gặp rất nhiều khó khăn trong việc tự cải thiện nhà ở. Một số địa phương đề nghị cần có chính sách hỗ trợ nhà ở cho các đối tượng này để giúp họ ổn định cuộc sống, có điều kiện để chống tái nghèo và vươn lên trong cuộc sống. Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế, Ngân sách nhà nước đang rất khó khăn, hơn nữa đối tượng này cũng rất lớn. Nếu thực hiện hỗ trợ cho các đối tượng này thì cần một khoản kinh phí rất lớn từ Ngân sách nhà nước (tính toán sơ bộ cũng cần khoảng 5.000 tỷ đồng trong thời hạn 3 năm từ 2013- 2015). Do đó, Bộ Xây dựng đề nghị: trước mắt tập trung giải quyết nhà ở cho hộ nghèo, chưa thực hiện hỗ trợ nhà ở cho các hộ cận nghèo trong giai đoạn hiện nay.

Bộ Xây dựng kính trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

Xin gửi kèm theo Tờ trình:

1. Đề án hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011-2015.

2. Dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Về chính sách tiếp tục hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở (Chương trình 167 giai đoạn 2).

3. Văn bản góp ý của các Bộ, ngành liên quan./.

Nơi nhận:
- Như trên;
- Lưu: VT, QLN (3).

 

 

BỘ TRƯỞNG
đã ký

 

 

Trịnh Đình Dũng

Source baoxaydung.com.vn

Bản in
Tags: ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  ,  

Các bài đã đăng: