Kiến trúc - Quy hoạch » Tư vấn kiến trúc

Hướng đến một phương pháp luận cải tạo và phát triển thủ đô Hà Nội

16/06/2008 09:28

Có người từng ví Hà Nội với nàng công chúa Lọ Lem. Nhưng ý kiến có lẽ chỉ đúng với Hà Nội cách đây 20 năm. Ngày nay, liệu Hà Nội có còn là một Lọ Lem đợi hoàng tử đến phát lộ vẻ đẹp? Cơn lốc kinh tế thị trường, sự bùng nổ đô thị và dân số cùng những bất cập trong quản lý đã biến những vết lọ lem xưa của Hà Nội thành vô vàn vết sẹo hằn sâu khó tẩy. Thử cùng điểm 7 “ vết sẹo” chính trên cơ thể đô thị Hà Nội.

Vệt sẹo thứ nhất: Cấu trúc tổng thể đô thị đang rạn vỡ

Hàng trăm, hàng nghìn dự án từ vài nghìn m2 đến vài chục ha đã và đang xâu xé cơ thể đô thị theo kiểu mạnh ai nấy làm. Mỗi dự án đều nhất quán phương châm: tối thiểu chi phí đầu tư hạ tầng nhằm tối đa tư lợi. Hệ quả là hệ thống hạ tầng chung của đô thị lãnh đủ, nhìn phố xá tắc nghẽn và ngập úng sau mỗi trận mưa cỡ trung bình tất rõ.

Kiến trúc xây chen trong phố cổ Hà Nội

Quy hoạch sử dụng tài nguyên đất, quy hoạch xây dựng đô thị, tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan, quy hoạch giao thông thiếu đồng bộ, thường trật khớp. Nguyên nhân từ lối “tư duy nhiệm kỳ”, manh mún, “chỉ biết mình, được việc mình”, đồng hành với vấn nạn tham nhũng chưa có dấu hiệu thuyên giảm.

Bên cạnh đó, sự thiếu vắng lâu nay một chủ thuyết quy hoạch dẫn đường đã khiến chúng ta không thể xây dựng được công nghệ quy hoạch đúng tầm. Kết quả là người dân không những không được hưởng lợi từ cấu trúc đô thị mạch lạc, khoa học mà họ lại phải sống, tồn tại trong mạng cấu trúc đô thị lộn xộn, đứt gãy và ô nhiễm. Liên tiếp phát sinh những bực bội, stress, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ cộng đồng cũng như sự phát triển kinh tế - văn hóa của thủ đô.

Vệt sẹo thứ hai: Các tuyến phố nhà ống tràn lan

Là hệ quả của quy hoạch chia lô thô thiển, những ngôi nhà bề ngang 3-4m, dài mươi mười lăm mét, cấu trúc bao diêm dựng đứng, với hình thức Pháp rởm, dễ dàng thấy ở mọi nơi, mọi lúc không riêng Hà Nội.

Tuyến phố nhà ống

Vệt sẹo thứ ba: Cái gọi là “ khu đô thị mới” mọc như nấm.

Với mục tiêu trên hết là làm sao mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất “càng nhiều càng ít”, giảm thiểu tối đa không gian công cộng, cây xanh, mặt nước và bê tông hoá mặt phố bằng chung cư cao tầng. Toàn bộ hình thức kiến trúc của khu vực này hoặc giả cổ (như Ciputra, The Manor…) hoặc nặng nề, đơn điệu theo kiểu Xô viết (như Trung Hoà Nhân Chính, Định Công, Đại Kim).

Giao thông quá tải

Vệt sẹo thứ tư: Sự hỗn tạp trong khu phố Cổ, phố Pháp và Thành Hà Nội

Trong những khu vực này mọc lên nhan nhản những kiến trúc giả cổ. Tâm điểm bùng phát virus kiến trúc thực dân là khu vực các cơ quan công quyền. Chưa có một kịch bản quy hoạch sáng sủa cho hệ thống các công trình cao tầng trong khu cổ. Chiến lược bảo tồn, khôi phục và phát triển bản sắc khu vực không rõ, thiếu kiên quyết và hiệu quả, khiến những đặc sản kiến trúc của Hà Nội đang ngày một nhạt nhòa.

Vệt sẹo thứ năm: Hệ thống mặt nước bị thu hẹp.

Hà Nội vốn tự hào bởi hệ thống hồ ao và sông ngòi độc nhất. Trái tim Thủ Đô là hồ Gươm, hồ Tây giữ vai trò lá phổi lớn, sông Hồng uốn khúc đầy tiềm năng.


Mất dần kiến trúc truyền thống làng ven hồ

Song thực tế vô số hồ ao đã bị các dự án vụ lợi tấn công, dân cư tha hồ “nhảy dù” ra mặt nước trước sự thoả hiệp, buông xuôi của cấp quản lý. Cảnh quan xung quanh hồ hết sức lộn xộn, nhà cửa khập khiễng, vô lối. Hiệu quả thoát nước tự nhiên, điều hoà vi khí hậu của hệ thống hồ ao bị hạn chế đáng kể. Vai trò độc đáo của yếu tố mặt nước trong cảnh quan chung của đô thị không được phát huy.

Vệt sẹo thứ sáu: Thiếu vắng không gian công cộng.

Hầu hết quảng trường ở Hà Nội chỉ là nút giao thông, không có chỗ cho con người lưu lại vui đùa, đối thoại. Tuyệt nhiên không có tuyến phố đi bộ đúng nghĩa, tranh cãi mấy chục năm về việc biến Tràng Tiền thành phố đi bộ mà nay vẫn chỉ nói suông. Hệ thống công viên, cây xanh ngày càng thu hẹp, chưa kể nguy cơ bị các dự án đầu tư nuốt chửng. Ta tự hào Hà Nội là thành phố xanh, thử xét giữa Manhattan sừng sững một công viên trung tâm hay cánh rừng lớn trong lòng Moscow…, mới biết khoảng xanh của Hà Nội còn khiêm tốn lắm.

Vệt sẹo thứ 7: Sự biến mất của các làng trong đô thị.

Những làng truyền thống như Ngọc Hà, Kim Liên, Nghi Tàm, Nhật Tân…, cũng không thoát khỏi sự tấn công của dịch chia lô, giả cổ. Cấu trúc và thế cân bằng sinh thái bị phá vỡ nghiêm trọng. Còn đâu những ốc đảo xanh, những lễ hội nghề tưng bừng, những không gian của Alibaba… Tất cả đều bị sức ép kinh tế thị trường cuốn phăng.

2- lộ trình thoát ra khủng hoảng

Điểm qua bảy vệt sẹo lớn để thấy Thăng Long- Hà Nội còn rất nhiều bề bộn. Kỷ niệm 1000 năm tuổi không chỉ là những lễ hội, những cuộc mít tinh, những dự án vội vàng. Cái cần hơn, thiết thực hơn là từ nhận thức chân xác về thực trạng trầm kha của đô thị Hà Nội hiện nay, chúng ta có thể hay không việc chủ động kiến tạo một lộ trình thoát ra khủng hoảng? Chỉ khi dám đối diện với sự thật, Thăng Long mới có cơ may dần trở thành… nàng công chúa xinh đẹp.

Để làm được điều đó, đòi hỏi trước nhất là một giải pháp đồng bộ, đa ngành nhằm chấn chỉnh toàn diện cấu trúc tổng thể đô thị. Muốn vậy, cần nghiên cứu đổi mới công nghệ quy hoạch vốn lạc hậu và xơ cứng lâu nay. Hàng loạt câu hỏi được đặt ra: chúng ta có hay không một chủ thuyết quy hoạch dẫn đường tạo tiền đề cho một công nghệ quy hoạch thích hợp? Có hay không một phương pháp luận cải tạo, mở rộng và phát triển đô thị? Một bản kế hoạch hành động thiết thực dựa trên những luận cứ xác đáng?

Tham khảo lý thuyết quy hoạch đô thị thế giới nhằm hướng đến một lý thuyết hình thái đô thị chất lượng, ta thấy lý thuyết quy chuẩn với 5 thước đo và 2 đại tiêu chí của Kevin Lynch là đáng suy ngẫm. 5 thước đo lần lượt là: Một là sống - có nghĩa là các khu vực định cư trong đô thị phải được tổ chức sao cho đảm bảo tốt nhất về mặt sức khỏe cho người dân. Hai là Ngữ nghĩa - là những biểu tượng, hình ảnh của các công trình tại những vị trí trung tâm, công trình trọng yếu, tuyến phố chủ đạo…, phải đủ ấn tượng thị giác và giàu ngữ nghĩa. Ba là Tiếp cận - khả năng di chuyển dễ dàng, thuận tiện đến các điểm, nút trong đô thị (ví dụ hệ thống giao thông ngầm, trên cao). Bốn là Đồng bộ - mọi hệ thống hạ tầng kỹ thuật, xã hội, pháp luật (quản lý đô thị), văn hóa phải cùng nằm trên một nền tảng chung. Năm là Kiểm soát - người dân phải thấy an toàn, thoải mái. Phải kiểm soát được người nhập cư, lực lượng lao động ban ngày và ban đêm, chỉ sống tạm trú, không hộ khẩu. Và 2 đại tiêu chí là Công bằng và hiệu quả.

Lý thuyết hình thái đô thị của Lynch là lý thuyết chuẩn tắc (hay quy chuẩn), tập trung vào sự tổ chức và cấu thành hình ảnh của các khu định cư đô thị. Xuất phát từ quan niệm hệ thống không gian trong đô thị phải là những thước đo phục vụ, luôn thường trực sẵn sàng phục vụ con người theo cái cách hiệu quả và công bằng nhất. Trên quan điểm này, hình thái đô thị không quan trọng ở tự nó, mà then chốt phải phản ánh chất lượng sống của cư dân.

Hiện nay, người ta đang hướng đến những đô thị phi tập trung. Mô hình đô thị sáng sủa hơn có thể gồm nhiều trung tâm với những “đảo” dân cư rải rác. Bài học bệnh “đầu to” của trung tâm Quận 1 - TP.HCM đã được PGS.TS Nguyễn Hồng Thục phân tích rõ trong bài viết về cấu trúc đô thị Sài Gòn.

Sau cùng, quá trình tìm kiếm 1 phương pháp luận cải tạo và phát triển Thủ đô, trách nhiệm chính thuộc về các KTS, đặc biệt là trách nhiệm của các nhà quản lý kiến trúc , quy hoạch. Đúng hơn, phụ thuộc khả năng tập hợp, thu hút và mạnh dạn tạo cơ chế cho đội ngũ chuyên gia đầu đàn, đa ngành kể cả trong và ngoài nước.

Nguồn ảnh: Internet
KTS Hoàng Thúc Hào - Trường ĐH Xây dựng (TCKT – BXD)