Pháp luật
Kỳ 2: Tận thu đá bằng công nghệ cao
Trong cuộc hành trình đi tìm những hình mẫu về tận thu khai thác đá bằng công nghệ mới, chúng tôi vẫn quyết định phải “rẽ ngang” sang những địa điểm còn khai thác bằng công nghệ “không quá cũ nhưng cũng chẳng mới”. Cốt để có thêm những bằng chứng mắt thấy tai nghe cho cuộc đấu tranh hướng tới tương lai với mục tiêu: Vì một ngành khai thác đá hiện đại, tiết kiệm, hài hòa 3 lợi ích kinh tế - xã hội - môi trường.

Kỹ thuật nổ mìn “visai phi điện” hạn chế lãng phí đá tài nguyên.
Một điểm khai thác đá mang tên mỏ Con Gấu (Kinh Môn - Hải Dương). Dẫn chúng tôi đi là anh Phạm Bá Tiến - Phó giám đốc Sở Xây dựng. Đứng trước mỏ đá khai thác vẫn bằng phương pháp cũ là xẻ núi, tuy nhiên anh Tiến nói rằng: “Cần có sự đánh giá cho công bằng về lịch sử ngành đá của địa phương. Một số mỏ đá khác tại Hải Dương đã phục vụ cho công cuộc sản xuất VLXD của đất nước từ năm 1959 đến nay, sự đóng góp ấy không biết đong đếm thế nào cho thỏa đáng. Tất nhiên, đánh giá bằng lăng kính của hôm nay, khi trình độ kỹ thuật tiên tiến đã phủ bóng rộng tại Việt Nam thì công nghệ khai thác ở đây rõ ràng đã kém một bậc. Đồng thời đánh đổi lại môi trường cảnh quan cũng sa sút. Khắc phục tình trạng này, nay tỉnh Hải Dương yêu cầu các chủ mỏ phải xây dựng đề án hoàn trả lại cảnh quan môi trường sau khi khai thác, đồng thời phải ký quỹ môi trường coi như khoản tiền nộp bắt buộc để ràng buộc trách nhiệm của các mỏ với bài toán hậu khai thác sau 50 năm nữa!”
Chúng tôi tin vào tâm huyết và quyết tâm hôm nay của Hải Dương. Lẽ nào không đau, dù nỗi đau có đồng hành với vẻ vang về thành tích kinh tế nhưng bản chất vẫn là một sự mất mát. Sự phát triển hài hòa 3 mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường rõ ràng chưa đạt được. Đó là tồn tại của lịch sử. Hải Dương đang “lên dây cót” để hướng tới tương lai xanh cho ngành khai thác đá. Còn sự thật hôm nay, những công nghệ và biện pháp khai thác đá mà các chủ mỏ ở đây vẫn đang sử dụng cho thấy, nó vẫn quá thô mộc so với nhiều mô hình khác đang áp dụng tại Việt Nam. Cái đề án hoàn trả môi trường như yêu cầu của tỉnh dường như chưa được đáp ứng một cách tích cực. Câu trả lời - có lẽ chúng ta đành phải chờ trong tương lai!
Hẳn sẽ có người thắc mắc: Mỏ đang khai thác, dù sử dụng công nghệ nào thì cũng dùng mìn phá đá cả, lấy đâu ra mà đã vội vàng đòi hỏi câu trả lời về việc hoàn trả môi trường? Thì đây, mục tiêu của chúng tôi trong cuộc theo chân người đứng đầu Hiệp hội VLXD Việt Nam - TS Trần Văn Huynh cũng để làm rõ câu trả lời đó trước công luận rằng học kinh nghiệm ấy như thế nào, ở đâu, và người Việt Nam có thể học theo, làm theo được không?
Thứ nhất, trên chính mảnh đất Hà Nam, chỉ cách những Lạt Sơn hay Thanh Liêm đầy rẫy nỗi buồn vì đá, là Xí nghiệp khai thác mỏ của Cty Xi măng VICEM Bút Sơn. Giám đốc Xí nghiệp, anh Phạm Văn Toản say sưa giải thích cho chúng tôi hiểu về công nghệ khai thác đá theo phương pháp khoan cắt tầng và kỹ thuật nổ mìn mang tên “visai phi điện”. Theo anh, hai phương pháp này đang áp dụng rộng khắp tại tất cả các mỏ đá thuộc những nhà máy xi măng hiện đại. Và điều quan trọng hơn mà chúng tôi đang cần tìm đã được anh giải đáp: Đừng đợi 50 năm sau khi khai thác mỏ mới hoàn trả môi trường, mà việc ấy cần phải làm hàng ngày để có một khai trường hạn chế bụi bặm, hạn chế lãng phí đá tài nguyên, và có một nền tảng tốt để sau này không quá nhọc nhằn “hoàn trả” môi trường.
Nói ngắn gọn để hiểu là nếu nổ mìn phá đá thông thường thì đá bị xẻ dọc núi một cách dễ dãi, thậm chí chân núi bị phá trước, tạo ra những hàm ếch lơ lửng phía trên. Đất đá bị xé nhỏ không theo kích cỡ nào. Phần đá chưa nổ dễ bị om, gây hiện tượng rơi đá gây nguy cơ mất an toàn lao động rất cao. Giá trị thu hồi thấp.
Nhưng khoan cắt tầng thì khác hẳn. Trước hết phải làm đường để đưa máy móc lên đỉnh núi. Nguyên tắc khai thác là lấy đá từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong. Mỗi tầng đá cao khoảng 15m, rộng 18 - 40m tùy theo chủ định của mỏ. Đá được bóc hết tầng trên thì sẽ bóc tiếp xuống tầng dưới, hết sức gọn gàng. Cách khai thác từng tầng một này khiến đá không bị văng ra ngoài, mà rơi gọn vào mặt bằng đã chuẩn bị sẵn, không gây nguy hiểm cho người dân ở khu vực xung quanh. Đường đi lối lại rộng rãi, an toàn với những mặt cắt đường lên tới hàng chục mét bề rộng (chính là nhờ tận dụng mặt bằng các tầng cắt mà thành đường đi).
Kỹ thuật nổ mìn visai phi điện triệt để là mìn được đưa xuống những lỗ khoan sâu xuống lòng đất tới 15m, những lỗ khoan cách nhau một khoảng đều đặn, theo hàng lối. Khi kích nổ, hàng trăm lỗ mìn nổ chênh nhau một khoảng thời gian 15 - 20 phần nghìn dây, nổ theo từng lớp lang đều đặn nên đá thu về kích cỡ khá đồng đều, độ chấn động giảm xuống mức tối thiểu. Xe xúc chỉ việc xúc gọn, để chở về trạm đập là xong. Khâu phân loại trở nên đơn giản. Đương nhiên, khi kích cỡ đá đều, máy nghiền sẽ phát huy công suất tối đa trong khi chi phí điện năng cũng giảm thiểu.
“Bài toán kinh tế là đấy chứ đâu đâu!”, anh Toản cho hay. Hơn chục năm qua không có vụ tai nạn lao động chết người nào, lại đáp ứng tới 12 nghìn tấn đá vôi/ngày cho hai lò quay có công suất lớn, đảm bảo mục tiêu ra lò 3 triệu tấn xi măng/năm của VICEM Bút Sơn, không có sự lãng phí tài nguyên đá vì nổ đến đâu xúc hết đến đó.
Nếu như ở Xi măng Bút Sơn, VICEM áp dụng kỹ thuật truyền nổ visai theo lỗ thì ở Xi măng Bỉm Sơn, điểm đến tiếp theo của chúng tôi, lại thực hiện kỹ thuật visai theo hàng, hiệu quả cũng rất cao. Như vậy kỹ thuật nổ visai mỗi nơi áp dụng một cách và đương nhiên mỗi cách có những ưu điểm khác nhau. Nhưng rõ ràng công nghệ khoan cắt tầng và visai nổ mìn đang là công nghệ được các DN xi măng hiện đại, có quy mô sản xuất lớn, hướng tới sự phát triển ổn định, bền vững, lâu dài áp dụng một cách rộng rãi, quyết liệt.
Chúng tôi băn khoăn đầu tư ban đầu lớn như vậy, e là không cổ vũ được các DN quy mô sản xuất nhỏ, tuy nhiên ông Toản cho rằng: “Chi phí cho mỏ cao nhưng chi phí trạm đập đá, nghiền đá lại thấp đi. Tiết kiệm đá, tiết kiệm điện, vận chuyển an toàn. Tính ra cuối cùng hóa lại chẳng cao. Chưa kể khai thác ổn định bất chấp diễn biến thời tiết”. Quả thật, ngay như dây chuyền 1 của VICEM Bút Sơn, sau 5 - 6 năm đã kéo lại khấu hao đầu tư cho mỏ, đương nhiên kéo theo giá thành đầu vào xi măng giảm theo. Suy cho cùng, việc đầu tư ban đầu cao cũng có logic của nó: Khôn ngoan và có tầm nhìn rộng!
DN Việt Nam quy mô sản xuất nhỏ, thậm chí ở những lĩnh vực khai thác đá với mục đích khác với sản xuất xi măng cũng có thể học được và làm được. Điều đó xin được đề cập ở những kỳ báo sau nữa, với những bằng chứng chúng tôi “tai nghe mắt thấy”.
- Cty CP đầu tư C.E.O Bị tố “mập mờ” trong điều khoản hợp đồng (23/05)
- Cần xử lý thấu đáo mâu thuẫn (23/05)
- Hà Nội: Vi phạm TTXD đã được xử lý (23/05)
- Q.Ba Đình, Hà Nội: Xem xét việc giả mạo hồ sơ xin cấp sổ đỏ (23/05)
- Vi phạm hành lang bảo vệ đê ở huyện Gia Viễn (Ninh Bình): Chính quyền có “làm ngơ”? (23/05)
- Kỳ 2: Thu hồi đất không ban hành Quyết định (23/05)
- Sóc Trăng: Tạo tiền lệ xấu cho chủ dự án (23/05)
- Thanh Hóa: Đằng sau việc bãi thị ở Bỉm Sơn (23/05)
- Cần sớm di dời cột điện đứng giữa đường (23/05)
- Thu hồi đất tại thị trấn Sapa (Lào Cai): Vì sao dân chưa thuận? (23/05)
- TT-Huế: Dân bán rừng cho đầu nậu khai thác vàng (22/05)
- Bắc Giang – Lạng Sơn: Thanh tra dự án Trường bắn quốc gia (TB1) (22/05)
- “Biếu không” nước ngoài mỏ than tốt nhất (21/05)
- Đào bán đất ruộng (21/05)
- Lâm Đồng: Đường hầm mới “khoét ruột” Thung lũng Tình Yêu (21/05)
- Thủy điện “giết” hạ du (21/05)
- Xây dựng nhà ở xã hội ở Nghệ An: DN “kêu trời” vì thiếu cơ chế hỗ trợ (17/05)
- Nỗi lo an toàn cho thợ xây (17/05)
- Dự án về, dân… đói! (16/05)
- Thanh tra Bộ Xây dựng làm việc về những vi phạm tại chung cư 93 Lò Đúc (16/05)
Tin pháp luật
Cần xử lý thấu đáo mâu thuẫn
Báo XD&PL nhận được đơn kiến nghị của ông Dương Văn Giản, sinh năm 1953, ở nhà số 149, phố Lương Khánh Thiện, P.Cầu Đất, ...













