07:45 | 28/04/2013

Quản lý chất lượng công trình xây dựng: Những thành tựu và thách thức

Sau 2 cuộc chiến tranh tàn khốc, để lại những tàn tích chiến tranh nặng nề, với nền tảng sơ khai ban đầu về khoa học công nghệ xây dựng và quản lý chất lượng công trình xây dựng, ngành Xây dựng Việt Nam đã trưởng thành, phát triển vượt bậc và đang vững bước tiến vào thế kỷ XXI. Quản lý nhà nước về lĩnh vực hoạt động xây dựng trong đó đặc biệt là lĩnh vực khoa học công nghệ xây dựng và chất lượng công trình xây dựng đã đạt được những thành tựu nổi bật, toàn diện và sâu rộng. Công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng (CLCTXD) đã tiếp cận và hội nhập được với các nước có nền khoa học công nghệ xây dựng và quản lý chất lượng xây dựng phát triển cao trong khu vực và trên thế giới. Chúng ta đã chủ động áp dụng nhiều công nghệ xây dựng tiên tiến của thế giới, đã đủ khả năng quản lý, xây dựng các công trình hiện đại, có yêu cầu kỹ thuật phức tạp và yêu cầu về chất lượng bằng nội lực của chính mình. Tuy rằng, trong chặng đường phát triển còn lắm gian nan, nhưng chúng ta vẫn có quyền tự hào bởi sức vóc con người Việt Nam đang từng bước làm chủ công cuộc xây dựng nước nhà bằng những công trình có chất lượng cao nhất.

Sự tiến bộ trong thể chế và công tác quản lý chất lượng công trình

Trước tiên phải nói đến sự tiến bộ trong việc xây dựng và hoàn thiện thể chế về quản lý đầu tư xây dựng đặc biệt trong đó có việc xây dựng và hoàn thiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) về quản lý CLCTXD. Trước năm 2003, khi chưa có Luật Xây dựng, công tác QLCLCT XD mới chỉ có các điều lệ, quy chế quản lý đầu tư và xây dựng được quy định tại một số Nghị định của Chính phủ như Nghị định 232-CP năm 1981, 385-HĐBT năm 1990, NĐ177-CP năm 1994, NĐ 42-CP năm 1996, NĐ92-CP năm 1997, NĐ52/1999/NĐ-CP. Có thể thấy, vấn đề bất cập trong công tác QLCLCTXD trước đây là thiếu, không đồng bộ, không rõ trách nhiệm, mức độ chế tài thấp… Sau khi có Luật Xây dựng và các VBQPL hướng dẫn Luật Xây dựng, tuy còn có những hạn chế nhưng những vấn đề trên đã từng bước được khắc phục. Năm 2004, lần đầu tiên, Chính phủ đã ban hành một Nghị định riêng về quản lý chất lượng công trình xây dựng và sau đó đến năm 2013 có NĐ 15/2013/NĐ-CP. Có thể nói NĐ 209 và NĐ 15 là một bước tiến dài và quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế về QLCLCTXD. Với NĐ 15 mới được ban hành, đã tăng cường hơn về quản lý Nhà nước và bước đầu rõ hơn về nội dung quản lý theo các nguồn vốn khác nhau.

Bên cạnh quá trình hoàn thiện của hệ thống VBQPPL thì 55 năm phát triển ngành Xây dựng cũng đánh dấu sự trưởng thành về năng lực của các chủ thể đối với từng lĩnh vực xây dựng. Hiện nay chúng ta đã có thể tự thiết kế và thi công xây dựng các nhà cao trên 30 tầng, các đập lớn có chiều cao trên 100m, các hồ chứa nước với dung tích trên 1 tỷ m3; các cầu có nhịp lớn trong khu vực (cầu Bãi Cháy kết cấu dây văng một mặt phẳng nhịp trên 400m, cầu Vĩnh Tuy kết cấu thông thường nhịp trên 150m)… Đến thời điểm hiện tại, những cái tên như Sông Đà, Vinaconex, HUD, Licogi, Cienco1, VIETSOVPETRO… luôn được nhắc tới mỗi khi đảm nhiệm những công trình dân dụng, công trình cầu đường, thủy lợi, khai thác dầu khí quy mô lớn trên cả nước.

Cùng với những tiến bộ về năng lực chủ thể, công nghệ thi công xây dựng của nước ta từ lúc phải nhờ sự hỗ trợ của chuyên gia nước ngoài cho một số công trình trọng điểm như thủy điện Hòa Bình, Thủy điện Yaly… đến nay, chúng ta đã gần như tiếp cận và làm chủ công nghệ mới. Công nghệ mới trong thi công xây dựng hiện nay mà chúng ta đang làm chủ có thể kể đến như: Công nghệ mới về xử lý nền đất yếu bằng phương pháp cố kết chân không, công nghệ thi công cọc ống thép bằng búa rung, bê tông đầm lăn (RCC – Roller Compacted Concrete ), công nghệ thi công sàn ứng lực trước…

Hình thức đầu tư đã có sự chuyển biến, khi mà trước kia, chúng ta chỉ có thể xây dựng hầu như bằng vốn Nhà nước hoặc viện trợ của nước ngoài, thì hiện tại, trên cả nước, chúng ta đã có rất nhiều công trình được đầu tư bằng các nguồn vốn khác nhau.

Công trình xây dựng và chất lượng công trình

Cách đây 55 năm, các công trình xây dựng của nước ta hầu như rất ít ỏi, chủ yếu là một số công trình giao thông, quốc phòng… phục vụ công cuộc kháng chiến. Nhiều công trình xây dựng lớn như nhà hát lớn, cầu Long Biên, QL1, tuyến đường sắt Bắc Nam… phần lớn được xây dựng từ trước. Tuy nhiên, chỉ sau nửa thế kỷ số lượng và quy mô các công trình đã tăng rất nhanh. Hiện nay, bình quân hàng năm cả nước có trên 8.000 dự án đầu tư xây dựng công trình được triển khai. Quy mô và loại công trình rất đa dạng, từ các công trình nhỏ như nhà ở riêng lẻ tới các công trình xây dựng quy mô vừa và lớn như: Bệnh viện, trường học, chung cư và khu đô thị mới, các nhà máy nhiệt - thuỷ điện, trạm và đường dây tải điện, hệ thống cầu - đường - hầm giao thông, cảng biển và cảng hàng không, nhà máy phân bón, nhà máy lọc dầu, đập và hồ chứa, các công trình hạ tầng kỹ thuật… Cho đến nay chúng ta đã có trên 7.000 công trình hồ chứa thuỷ điện, thuỷ lợi đã vận hành. Chúng ta tự hào khi có thủy điện Sơn La với công suất 2400MW lớn nhất Đông Nam Á, thủy điện Hòa Bình, Lai Châu… Nhiều công trình giao thông có quy mô lớn như cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ, cầu Bãi Cháy, cầu Thăng Long, đường trên cao vành đai 3 Hà Nội, đại lộ Thăng Long, đại lộ Đông Tây… những “cao ốc” cao nhất Việt Nam như Keangnam Hanoi Landmark Tower, Bitexco Financial Tower, VietinBank Tower…

Chất lượng công trình có xu hướng ngày càng được nâng cao. Theo số lượng tổng hợp hàng năm về tình hình CLCT, bình quân trong 5 năm gần đây có trên 90% công trình đạt chất lượng từ khá trở lên. Số lượng sự cố công trình xây dựng tính trung bình hàng năm ở tỷ lệ thấp, chỉ từ 0,28 - 0,56% tổng số công trình được xây dựng. Hầu hết các công trình, hạng mục công trình được đưa vào sử dụng trong thời gian qua đều đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, phát huy đầy đủ công năng sử dụng theo thiết kế, đảm bảo an toàn trong vận hành và đang phát huy tốt hiệu quả đầu tư. Có thể ví dụ như các công trình: Cầu Mỹ Thuận, cầu Bãi Cháy, hầm Hải Vân, Đạm Phú Mỹ, Thuỷ điện Yaly, Thủy điện Sơn La và Nhà máy khí, điện, đạm Cà Mau, khu đô thị Phú Mỹ Hưng, Linh Đàm....

Từ năm 2005 - 2008, qua bình chọn công trình chất lượng cao đã có 255 công trình được tặng huy chương vàng và 86 công trình được tặng bằng khen. Một số công trình đã được các giải thưởng quốc tế về chất lượng như công trình hầm Hải Vân đã được Hiệp hội các nhà tư vấn Hoa Kỳ bình chọn trong năm 2005 là công trình hầm đạt chất lượng cao nhất thế giới...

Bên cạnh các ưu điểm kể trên phải thừa nhận một thực tế là vẫn còn một số tồn tại về chất lượng công trình. Các bất cập về CLCT cần được nghiên cứu khắc phục thể hiện thông qua các sự cố, hư hỏng công trình cũng như những khoảng trống về pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật... Trong giai đoạn tới việc triển khai thực hiện tốt NĐ15/2013/NĐ-CP là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Xây dựng trong việc đảm bảo và nâng cao hơn nữa về CLCTXD và quản lý CLCTXD.

Phạm Tiến Văn
Phó Cục trưởng Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng

Source baoxaydung.com.vn

Bản in

Các bài đã đăng: