Sổ tay nhà quản lý » Văn bản mới

Chiến lược Quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020 giai đoạn I (2007-2010)

02/02/2012 14:54

BỘ XÂY DỰNG

Số: 06/BC - BXD

 

 

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Hà Nội, ngày 17 tháng 01 năm 2012

BÁO CÁO
Chiến lược Quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai đến năm 2020
giai đoạn I (2007-2010)

Kính gửi : Ban Chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương.

Thực hiện công văn số 344/PCLBTW ngày 22/11/2011 của Ban Chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương, Bộ Xây dựng báo cáo về việc kết quả thực hiện Chiến lược Quốc gia về Phòng chống và giảm nhẹ thiên tai như sau:

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN TRONG GIAI ĐOẠN I (2007-2010)

1. Về thực hiện Chương trình mục tiêu “Xây dựng các cụm tuyến dân cư an toàn với lũ vùng đồng bằng sông Cửu Long” giai đoạn 2.

Trong giai đoạn 2 của Chương trình có 7 tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Cửu Long triển khai thực hiện các dự án cụm, tuyến dân cư vượt lũ là An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Tiền Giang, Vĩnh Long, Hậu Giang và Cần Thơ. Kết quả thực hiện các mục tiêu chủ yếu của các địa phương như sau:

Các địa phương đã hoàn thành việc quy hoạch, chọn địa điểm xây dựng 178 dự án, trong đó có 129 cụm, tuyến và 49 bờ bao. Kết quả thực hiện một số mục tiêu chủ yếu:

Về công tác tôn nền, đắp bờ bao

- Đã khởi công tôn nền, đắp bờ bao 149/178 dự án, đạt 84%. Trong đó: năm 2011 khởi công 11 dự án.

- Hoàn thành tôn nền, đắp bờ bao 115/178 dự án (tỷ lệ 65%). Trong đó: năm 2011 hoàn thành 10 dự án.

Về công tác xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật thiết yếu

Các địa phương đã thực hiện hoàn thành khoảng 40% khối lượng công việc. Khối lượng hoàn thành chủ yếu là triển khai thực hiện trong năm 2011.

Về công tác xây dựng nhà ở và bố trí các hộ dân vào ở trong các cụm, tuyến dân cư:

- Đã xây dựng xong 4.442/36.327 căn nhà (tỷ lệ 12%). Riêng năm 2011 xây dựng xong 3.372 căn nhà.

- Bố trí 23.038/57.252 hộ dân vào ở trong cụm, tuyến và bờ bao khu dân cư, đạt 40%. Trong đó: số hộ vào ở trong cụm, tuyến là 5.576 hộ, trong khu vực bờ bao là 17.512 hộ.

Riêng năm 2011, đã bố trí 15.439 hộ dân vào ở trong cụm, tuyến và bờ bao (trong đó: số hộ vào ở trong cụm, tuyến là 4.506 hộ, trong khu vực bờ bao là 10.933 hộ).

Về công tác xây dựng bãi chứa rác thải

Đã xây dựng hoàn thành 22/121 bãi chứa rác, đạt 18%. Riêng năm 2011 hoàn thành 2 bãi chứa rác thải.

Nhìn chung, đa số các địa phương đã quan tâm chỉ đạo thực hiện. Các dự án cụm, tuyến và bờ bao hoàn thành bước đầu đã phát huy hiệu quả. Trong đợt lũ đặc biệt lớn vừa qua, người dân đã có thể di dời lên các cụm, tuyến để tránh lũ. Các bờ bao khu dân cư đã phát huy hiệu quả tích cực, không những đảm bảo an toàn cho người dân, mà còn bảo vệ hoa màu, vườn cây ăn trái của người dân không bị lũ phá huỷ. Ngoài ra, các bờ bao khu dân cư còn kết hợp làm đường giao thông nông thôn rất thuận lợi cho việc đi lại của người dân.

Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện các dự án đầu tư giai đoạn 2 nhìn chung còn chậm so với yêu cầu và không đồng đều ở các địa phương. Sau 3 năm triển khai thực hiện, đến nay vẫn chưa hoàn thành công tác tôn nền, đắp bờ bao. Đặc biệt trong năm 2011 kết quả đạt được rất thấp.

Việc triển khai thực hiện còn chậm do một số nguyên nhân sau:

- Một số địa phương chưa có sự quan tâm đúng mức trong chỉ đạo thực hiện. Việc chậm khởi công thực hiện các dự án đã bị ảnh hưởng rất lớn của việc thay đổi quy định giá bồi thường, giải phóng mặt bằng theo Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ cũng như chịu ảnh hưởng do giá vật liệu tăng cao.

- Việc bố trí vốn từ nguồn ngân sách trung ương cho các địa phương chưa đầy đủ và kịp thời nên nhiều địa phương không có vốn để thực hiện. (Ngoài số vốn được cấp năm 2009 thì liên tiếp trong 2 năm 2010 và 2011 các địa phương không được bố trí vốn tiếp để thực hiện.

2. Về công tác quy hoạch, xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn:

Bộ Xây dựng đã tổ chức thiết kế mẫu Công sở làm việc cấp xã áp dụng cho vùng núi, vùng ngập lũ; Thiết kế điển hình bộ phận nhà ở vùng bão lụt. Các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đã được ban hành trong năm 2009: “Quy hoạch xây dựng nông thôn”, “Số liệu điều kiện tự nhiên dùng trong xây dựng”. Mặc dù các dạng quy hoạch này không nằm trong Chiến lược Quốc gia về Phòng chống và giảm nhẹ thiên tai ngưng đã mang lại nhiều hiệu quả thiết thực.

Ngoài ra Bộ Xây dựng đang thực hiện các nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ với Hoa Kỳ, Nga, Bỉ, Trung quốc, Bungari trong công tác quy hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu, kiến trúc xanh, xây dựng nhà cao tầng trong vùng động đất, gió bão.

Công tác quy hoạch đã được quan tâm, đẩy mạnh, cơ bản đáp ứng được yêu cầu về phát triển kinh tế – xã hội, phát triển đô thị, quá trình nghiên cứu, lập điều chỉnh quy hoạch xây dựng vùng, các đô thị khu công nghiệp, điểm dân cư nông thôn đã được gắn kết với kế hoạch phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, đảm bảo phát triển bền vững, đặc biệt là tại các vùng có khả năng chịu tác động mạnh do thiên tai và BĐKH.

Chất lượng các đồ án quy hoạch đã có bước chuyển biến rõ rệt, ngày càng được nâng cao. Công tác quản lý xây dựng và phát triển đô thị theo quy hoạch đã từng bước đi vào nề nếp.

Các đồ án quy hoạch xây dựng vùng do Bộ Xây dựng tổ chức lập và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã cơ bản phủ kín trên phạm vi cả nước. Tất cả các đô thị từ loại IV trở lên đều đã có quy hoạch chung được phê duyệt. Công tác quy hoạch xây dựng nông thôn được chú trọng và tập trung nguồn lực để triển khai thực hiện nhằm mục tiêu phấn đấu đến hết năm 2011 cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng các điểm dân cư nông thôn.

Bộ Xây dựng cũng tập trung chỉ đạo rà soát, bổ sung, ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn trong các lĩnh vực của Ngành nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng của thiên tai, đặc biệt là đối với những địa phương vùng Duyên hải, các khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão, lũ, lụt; tổ chức hướng dẫn kỹ thuật xây dựng để phòng chống, giảm nhẹ thiên tai và ứng phó với BĐKH; đồng thời chỉ đạo nghiên cứu các thiết kế điển hình mẫu nhà ở nông thôn phù hợp với các vùng miền, đặc điểm sinh thái, loại hình sản xuất, quy mô ở của từng nhóm hộ, của từng vùng cho các địa phương, ưu tiên trước vùng bị ảnh hưởng nhiều về thiên tai và tại 11 xã điểm theo chỉ đạo của Trung ương.

Thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế biển theo tinh thần Nghị quyết TW 4 (khoá X) và Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu, Bộ đã chỉ đạo nghiên cứu Đề án phát triển các đô thị Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu, dự kiến đề án sẽ hoàn thành vào cuối năm 2012.

3. Các nhiệm vụ khác

Ngoài các nội dung nêu trên, trong giai đoạn 2007-2010, Bộ Xây dựng tập trung chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Nghiên cứu vật liệu và phương pháp thi công để các công trình xây dựng không bị tác động bởi mực nước biển dâng.

- Tập hợp và xuất bản các tài liệu hướng dẫn nhân dân thực hiện các biện pháp gia cố công trình, nhà ở để hạn chế các ảnh hưởng xấu của bão, lũ, lụt.

- Phối hợp với một số địa phương và các doanh nghiệp thuộc Bộ soạn thảo quy chế đóng, mở, duy trì mực nước trong các hồ chứa, các hồ thuỷ điện.

- Thường xuyên phổ biến và đôn đốc các đơn vị trực thuộc đăng ký các phương tiện cứu hộ, cứu nạn tại nơi các đơn vị đứng chân hoặc đang thi công; lập kế hoạch và thực hiện diễn tập các phương án tìm kiếm cứu nạn tại các địa điểm thi công các công trình có khả năng xảy ra lũ quét, lũ ống, đặc biệt là tại những công trình thuỷ điện.

- Thường xuyên theo dõi tình hình thời tiết trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng để nắm bắt, từ đó đề ra biện pháp thích hợp để chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện trong trường hợp có bão, lụt hoặc các loại hình thiên tai khác.

- Xây dựng Chương trình hành động của Quốc gia ứng phó với BĐKH trong lĩnh vực xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng.

II. THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN.

Bộ Xây dựng còn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện triển khai công tác Phòng chống và Giảm nhẹ thiên tai với các yếu tố sau:

- Các đơn vị trực thuộc Bộ đóng rải rác trên địa bàn khắp cả nước.

- Các hoạt động tác nghiệp của ngành Xây dựng luôn luôn thay đổi về cả địa điểm, địa hình lẫn các yếu tố khác.

- Hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị thuộc Bộ rất phong phú, đa dạng.

Với các đặc trưng như trên nên việc phổ biến tuyên truyền và kiểm tra việc thực hiện chưa kịp thời và gặp nhiều khó khăn.

Việc hướng dẫn các đơn vị thực hiện các nội dung Phòng chống và giảm nhẹ thiên tai tại các công trường rất đa dạng, việc cập nhật và phổ biến các nội dung chưa theo kịp được yêu cầu của tình hình mới.

III. KIẾN NGHỊ , ĐỀ XUẤT

1. Đề nghị Ban chỉ đạo Phòng chống lụt bão Trung ương mở các lớp bồi dưỡng ngắn ngày với các chuyên đề có nội dung là các biện pháp để Phòng chống và giảm nhẹ thiên tai cho cán bộ, viên chức của các đơn vị và địa phương.

2. Đối với Chương trình “Xây dựng các cụm tuyến dân cư an toàn với lũ vùng đồng bằng sông Cửu Long” giai đoạn 2:

- Đề nghị UBND các tỉnh, thành phố vùng ngập lũ ĐBSCL quan tâm chỉ đạo, có kế hoạch và biện pháp cụ thể đối với từng huyện, từng xã, từng dự án; tăng cường kiểm tra đôn đốc, giám sát thực hiện đảm bảo mục tiêu, yêu cầu đề ra.

- Đề nghị Chính phủ cấp đủ và kịp thời số vốn ngân sách trung ương còn thiếu so với tổng số vốn đã được phê duyệt cho các địa phương là 582 tỷ đồng.

Trên đây là báo cáo kết quả thực hiện Chiến lược Quốc gia phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai giai đoạn I (2007- 2010) của Bộ Xây dựng. Mong nhận được sự quan tâm, chỉ đạo thường xuyên của Ban Chỉ đạo ./.

 

Nơi nhận:
- Như trên;
- Bộ trưởng Bộ XD (để b/c);
- Lưu :VT, KHTC.

 

 

KT.BỘ TRƯỞNG
Thứ trưởng

đã ký

 

Bùi Phạm Khánh