14:50 | 15/05/2019

Quy hoạch khai thác khoáng sản làm VLXD: Đáp ứng yêu cầu phát triển trong từng thời kỳ

(Xây dựng) – Việc thăm dò, khai thác, chế biến và xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng (VLXD) được thực hiện theo quy hoạch nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong từng thời kỳ.


Ảnh minh họa.

Bộ Xây dựng đã lập và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm VLXD ở Việt Nam đến năm 2020 và quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản làm xi măng ở Việt Nam đến năm 2020, góp phần sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước, đáp ứng nhu cầu phát triển ngành công nghiệp sản xuất VLXD trong thời gian dài, đóng vai trò quan trọng cho phát triển kinh tế.

Khoáng sản làm xi măng

Tập trung chủ yếu tại: Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Huế, Quảng Nam, Tây Ninh, Bình Phước, Kiên Giang. Hiện có 274 mỏ khoáng sản đá vôi xi măng được khảo sát và thăm dò với tổng tài nguyên và trữ lượng khoảng 44 tỷ tấn. Trong đó, có 89 mỏ có quy mô lớn (trữ lượng trên 100 triệu tấn), 88 mỏ có quy mô vừa (trữ lượng từ 20 - 100 triệu tấn) và còn lại là các mỏ có quy mô nhỏ (trữ lượng nhỏ hơn 20 triệu tấn); Có 218 mỏ đất sét làm xi măng được khảo sát và thăm dò với tổng tài nguyên và trữ lượng khoảng 7,6 tỷ tấn, trong đó có 33 mỏ có quy mô lớn (trữ lượng trên 50 triệu tấn), 47 mỏ có quy mô vừa (trữ lượng từ 20 - 50 triệu tấn) và còn lại là các mỏ có quy mô nhỏ (trữ lượng nhỏ hơn 20 triệu tấn); Có 111 mỏ phụ gia làm xi măng được khảo sát và thăm dò với tổng tài nguyên và trữ lượng khoảng 04 tỷ tấn.

Hầu hết các mỏ đá vôi, đá sét và phụ gia xi măng có chất lượng đủ tiêu chuẩn làm nguyên liệu sản xuất xi măng. Với nhu cầu sử dụng nguyên liệu cho sản xuất xi măng hiện nay khoảng 110 triệu tấn đá vôi/năm, 21 triệu tấn đất sét/năm và 15 triệu tấn phụ gia/năm thì tiềm năng trữ lượng khoáng sản và năng lực khai thác, chế biến hiện có hoàn toàn đáp ứng đủ nhu cầu lâu dài cho ngành sản xuất xi măng.

Khoáng sản làm đá ốp lát tự nhiên

Có tiềm năng rất lớn và đa dạng chủng loại, phân bố tại: Nghệ An, Yên Bái, Huế, Bình Định, Khánh Hòa, Phú Yên, Đắk Lăk, Kon Tum, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu... Toàn quốc có 197 mỏ đá ốp lát với tổng trữ lượng và tài nguyên dự báo vào khoảng 37 tỷ m3.

Trên cơ sở quy hoạch phê duyệt, đến hết năm 2016 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cấp 90 giấy phép khai thác với tổng trữ lượng được phê duyệt khoảng 96 triệu m3, công suất khai thác 3,75 triệu m3/năm. Đã có khoảng 155 cơ sở đầu tư nhà máy chế biến đá ốp lát trên toàn quốc với tổng năng lực sản xuất trên 17 triệu m2/năm. Năm 2016, sản lượng sản xuất chế biến đá hoa ốp lát đạt 1,19 triệu m2/năm và các loại đá khác (granit, đá gabro, bazan) đạt 6,34 triệu m2/năm. Khối lượng xuất khẩu đá ốp lát trung bình hàng năm khoảng trên là 1,5 triệu m2 với giá trị kim ngạch xuất khẩu khoảng trên 30 triệu USD.

Đối với đá khối làm ốp lát, trước đây, theo quy định tại Thông tư số 04/2012/TT-BXD ngày 20/9/2012 thì đá khối thuộc danh mục khoáng sản làm VLXD không xuất khẩu. Để có chính sách xuất khẩu khoáng sản trong từng thời kỳ phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội theo khoản 7, Điều 3 của Luật Khoáng sản và tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, Bộ Xây dựng đã có văn bản kiến nghị và Thủ tướng Chính phủ đã có Văn bản số 343/TTg-CN ngày 08/3/2017 đồng ý về nguyên tắc việc xuất khẩu đá hoa trắng dạng khối.

Thực hiện chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng tại Thông báo số 264/TB-VPCP ngày 14/6/2017 của Văn phòng Chính phủ về tình hình ngành Công nghiệp khai khoáng ở Việt Nam, ngoài khoáng sản đá hoa trắng dạng khối đã được cho phép xuất khẩu tại Văn bản số 343/TTg-CN nêu trên, Bộ Xây dựng đã bổ sung việc hướng dẫn xuất khẩu đối với các chủng loại đá khối khác (đá granit, đá vôi, đá gabro, đá bazan...) tại Thông tư 05/2018/TT-BXD về xuất khẩu khoáng sản làm VLXD.

Khoáng sản cát trắng silic

Trên toàn quốc dự báo có khoảng 1,4 tỷ tấn, phân bố tập trung chủ yếu ở các tỉnh duyên hải ven biển miền Trung và Nam Trung bộ: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Thuận, Khánh Hòa... Theo quy hoạch phê duyệt, trên toàn quốc có 85 mỏ với tổng trữ lượng và tài nguyên dự báo khoảng 1.4 tỷ tấn.

Trên cơ sở quy hoạch phê duyệt, đến hết năm 2016, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cấp 15 giấy phép khai thác khoáng sản cát trắng silic với tổng trữ lượng phê duyệt là 137 triệu tấn và công suất khai thác khoảng 3,6 triệu tấn/năm (chưa kể các giấy phép khai thác do UBND các địa phương cấp và khoáng sản đi kèm với các giấy phép khai thác titan sa khoáng).

Tổng sản lượng khai thác, chế biến và tiêu thụ cát trắng trên toàn quốc hiện nay khoảng trên 1,1 triệu tấn/năm, trong đó thị trường tiêu thụ trong nước khoảng 70% (làm nguyên liệu sản suất thủy tinh và kính xây dựng khoảng 60%, làm phụ gia và nguyên liệu sản xuất sơn, gốm sứ, đá ốp lát nhân tạo… khoảng 10%); xuất khẩu chiếm khoảng 30%. Năng lực khai thác, chế biến hiện có hoàn toàn đáp ứng lâu dài về nguồn nguyên liệu cát trắng cho nhu cầu sử dụng trong nước và một phần xuất khẩu.

Theo số liệu tổng hợp từ Tổng cục Hải quan và báo cáo của các địa phương, khối lượng xuất khẩu hàng năm khoảng trên 400 triệu tấn với trị giá trên 12 triệu USD. Thủ tướng Chỉnh phủ đã có Văn bản số 9826/VPCP-CN ngày 15/9/2017 về chủ trương không xuất khẩu mọi loại cát ra nước ngoài. Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 602/TTg-CN ngày 10/5/2018, Bộ Xây dựng đã chủ trì, kiểm tra và hướng dẫn cho 14 doanh nghiệp được phép tiếp tục xuất khẩu đối với các hợp đồng đã ký với các đối tác nước ngoài trước ngày 15/9/2017.

Khoáng sản cao lanh

Cao lanh là một trong những nguyên liệu chính được sử dụng để sản xuất gốm sứ xây dựng, vật liệu chịu lửa, sản xuất nhôm, chất độn sơn, cao su, giấy, xi măng trắng... phân bố tập trung chủ yếu tại: Lào Cai, Phú Thọ, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng, Tây Ninh, Bình Phước, Bình Dương, An Giang... Theo quy hoạch phê duyệt, toàn quốc có 382 mỏ cao lanh đã được phát hiện hoặc điều tra, đánh giá với tổng tài nguyên, trữ lượng khoảng 848 triệu tấn. Tổng trữ lượng đã phê duyệt và cấp phép đến hết năm 2016 khoảng 65 triệu tấn.

Cả nước hiện có trên 40 cơ sở khai thác, chế biến cao lanh với tổng công suất khai thác hàng năm khoảng 02 triệu tấn, công suất chế biến khoảng 1,5 triệu tấn/năm. Ngoài việc cung cấp làm nguyên liệu sản xuất gốm sứ, vật liệu chịu lửa và khoáng chất công nghiệp, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư dây chuyền chế biến tuyển lọc cao lanh hiện đại tạo ra các sản phẩm chất lượng cao để xuất khẩu ra nước ngoài.

Theo quy hoạch phê duyệt, nhu cầu sử dụng cao lanh trong nước từ nay đến năm 2020 khoảng 950.000 tấn/năm. Với năng lực khai thác và chế biến hiện có hoàn toàn đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước đối với loại khoáng sản này. Lượng xuất khẩu cao lanh hiện tại không lớn và chủ yếu là các sản phẩm cao lanh thương phẩm chất lượng cao để làm men gốm sứ và khoáng chất công nghiệp. Theo số liệu tổng hợp từ Tổng cục Hải quan, tổng khối lượng cao lanh xuất khẩu hàng năm khoảng 30 nghìn tấn với trị giá kim ngạch xuất khẩu khoảng 05 triệu USD.

Qua hơn 10 năm triển khai thực hiện các quy hoạch khai thác khoáng sản làm VLXD đồng thời để phù hợp với Luật Quy hoạch mới ban hành, Bộ Xây dựng đã và đang chỉ đạo các cơ quan liên quan xây dựng “Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050”.

Thanh Nga

Theo dòng sự kiện:

Xem tiếp

Các bài đã đăng: