09:54 | 06/05/2010

Vật liệu xây không nung: Những băn khoăn trước… “vận hội mới”


Người tiêu dùng bắt đầu quan tâm tới VLXKN.

Vẫn tồn tại quá nhiều lo ngại!

Chỉ với một câu hỏi: “Tại sao VLKN ở Việt Nam chưa phát triển?”, có thể nhanh chóng liệt kê hàng loạt câu trả lời. Nếu đúc rút lại, đó là những vấn đề mang tính hệ thống, từ thói quen sử dụng vật liệu nung truyền thống, tới các vấn đề khác biệt quá lớn trong giá cả, những bất cập tồn tại trong cơ chế chính sách như không khích lệ được DN sản xuất tích cực nhập cuộc, chưa thiết lập được những điều kiện thuận lợi để các chủ đầu tư công trình có thể tiếp cận sử dụng dòng vật liệu xanh” này... Nhưng nếu đặt một câu hỏi khác, ngay cả khi thông tin lạc quan về việc công trình trên 9 tầng bắt buộc phải sử dụng VLKN nêu trên được ban hành, thì chắc chắn rất ít DN dám trả lời một cách rành rọt! Câu hỏi là: Liệu DN gạch ngói Việt Nam có nhanh chóng nhập cuộc và hết mình trong “cuộc chơi” mới với VLXKN? Sở dĩ điều đó xảy ra là vì DN vẫn tiếp tục “đề cao cảnh giác” trong cuộc đối đầu không cân sức với VLXKN dù cho cơ chế đã bước đầu được khơi thông.

Nói như vậy không có nghĩa DN không mặn mà với VLXKN, sự quan tâm của khối DN ngày càng rõ rệt hơn, thậm chí phải khẳng định cả 2 phía cung - cầu trên thị trường đều “sôi” lên vì sản phẩm mệnh danh dòng “vật liệu của tương lai này”. Nhưng vì sao sự quan tâm ấy chưa đủ sức mạnh để kiến tạo nên một thị trường mới? Tìm hiểu nguyên nhân từ một vài nhân vật “có sao có vạch” trong nghề làm gạch và buôn gạch ngói, thậm chí không ít người trải nghiệm dễ đến cả chục năm chính trong việc bán gạch… không nung, thì họ vẫn tỏ ra chưa thực sự tin tưởng có thể tồn tại và phát triển tốt nếu DN chỉ dựa vào việc sản xuất hay buôn bán VLXKN một cách đơn thuần.

Tìm hiểu kỹ, đúng là vẫn còn những lý do đáng để lo ngại. Hãy thử hình dung về một tình huống đơn giản nhất: Phần nhiều sản phẩm VLXKN đang đưa ra giới thiệu trên thị trường có nhược điểm bám dính vữa kém, khó xây, khó trát bằng vữa xi măng pooc-lăng thông thường khiến tường bị nứt hay ngấm nước sau một thời gian sử dụng. Lẽ ra vữa xây của dòng vật liệu này phải được bổ sung một vài phụ gia khác để tăng tính bám dính. Nhưng điều đó đồng nghĩa với việc các ngành công nghiệp phụ trợ khác mà trước hết là ngành xi măng cũng phải có sự chuyển đổi tương thích. Rồi hoạt động của toàn ngành công nghiệp xây dựng và của dân chúng cũng phải thay đổi theo. Đó là một vấn đề lớn mà DN nào đi tiên phong sản xuất VLXKN cũng phải chấp nhận. Để có “đất” phát triển, DN sản xuất VLXKN phải tính toán ngay từ quá trình đầu tư xây dựng việc đưa ra các dịch vụ về vữa xây đi kèm.

Quay lại với bài toán giá cả (cả hai phía đầu vào - đầu ra) để đặt lên “bàn cân” với vật liệu đất sét nung truyền thống cho thấy còn quá nhiều điều để lo lắng. Chưa kể những nỗi lo cũng vô cùng khó hóa giải khác như: Thiếu những quy chuẩn, tiêu chuẩn về kỹ thuật trong sử dụng VLXKN, gây khó khăn cho hoạt động thanh quyết toán công trình… Rõ ràng giá cả sẽ vẫn là rào cản lớn trong cuộc đua song mã giữa VLKN và gạch xây truyền thống.

Tương lai cho dòng sản phẩm của tương lai?

Hiện tại sản lượng VLXKN trên thị trường chỉ chiếm từ 4 - 7% tổng sản lượng gạch toàn quốc. Các sản phẩm nhập khẩu có giá bán quá cao, có loại lên đến 150 USD/m3 do sử dụng công nghệ sản xuất của CHLB Đức. Có thể mừng là một số nhà cung cấp công nghệ như Teeyer (Trung Quốc) đang chào hàng những dây chuyền công nghệ rất hiệu quả, suất đầu tư tốt hơn khiến giá bán dự kiến có thể ở mức 1,2 triệu đồng/m3. Ngoài lý do suất đầu tư thấp, VLKN còn hấp dẫn ở điểm sử dụng nguồn tro xỉ, tro bay thải ra của các nhà máy nhiệt điện, hoặc sử dụng cát, đá mạt, đá chẻ khác trong tự nhiên. Tuy nhiên khi đón nhận thông tin ấy, ông Đoàn Châu Phong - Phó TGĐ TCty CP Vinaconex và đại diện rất nhiều DN khác vẫn chưa hết lý do để băn khoăn: Nguồn tro xỉ để sản xuất VLXKN của các nhà máy nhiệt điện hiện rất rẻ vì không biết dùng vào việc gì, nhưng nếu ngày càng có những quy định chặt chẽ hơn nữa về việc sử dụng VLXKN, e rằng nó biến thành sản phẩm độc quyền và tất nhiên giá thành VLXKN sẽ bị đẩy cao, thậm chí rất cao; rồi nguồn cung tro xỉ như hiện nay có đủ đáp ứng nhu cầu nguyên liệu đầu vào của các nhà máy sản xuất VLXKN khi ngành này chính thức được giao trọng trách thay thế ngành vật liệu đất sét nung? Chưa hết, với các nhà máy không sử dụng tro xỉ mà dùng cát làm nguồn nguyên liệu chính, thì không chỉ phải đối mặt với bài toán giá cát cao mà chi phí điện năng để nghiền và sấy cát thành bột mịn cũng rất lớn.

Đáng mừng là chương trình phát triển VLXKN mới được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, thì các dự án chế tạo thiết bị, sản xuất vật liệu không nung nhẹ, gạch xi măng... đều được hưởng chính sách ưu đãi về thuế thu nhập, thuế nhập khẩu và ưu đãi khác như đối với dự án thuộc chương trình cơ khí trọng điểm. Không khí lạc quan đã được thắp lên, nhưng vẫn không thể không lưu ý một thông tin hết sức quan trọng: Tại các nước phát triển, ngành công nghiệp này từ lâu đã chiếm trên 70% sản lượng vật liệu xây sản xuất hàng năm. Còn lại gần 30% vật liệu nung chủ yếu dùng cho mục đích trang trí và đó nhất định phải là những sản phẩm thực sự cao cấp. Trong khi đó, ở Việt Nam, hiện tại vật liệu nung đang chiếm tỷ lệ hơn 93% , còn vật liệu không nung chỉ chiếm từ 4 - 7% tổng sản lượng. Một sự thật không thể phủ nhận là vẫn tồn tại tình trạng nhiều địa phương có sản lượng gạch nung đến 100%..

Theo ông Phạm Văn Bắc - Phó vụ trưởng Vụ VLXD, định hướng đến 2020, VLXKN chiếm khoảng 30 - 40% vật liệu xây! Một con số thoạt nghe tưởng chừng khiêm tốn, nhưng rõ ràng trên nền tảng cơ chế chính sách hiện hành và thực tế đời sống xây dựng, chặng đường để đạt được mục tiêu “khiêm tốn” đó cũng không hề dễ dàng. Nhưng với ông Nguyễn Trần Nam - Thứ trưởng Bộ Xây dựng, thì phát triển VLKN đang là xu thế chung của thế giới, đưa công nghệ này vào cuộc sống là hoàn toàn phù hợp với chủ trương công nghiệp hoá của nước ta và vì lợi ích lâu dài về phát triển bền vững nên nhất định cả Nhà nước và DN cùng phải nghiêm túc bắt tay nhập cuộc với VLKN.

Ưu đãi đối với sản xuất, tiêu thụ VLXKNTheo Chương trình, sẽ có 3 chủng loại VLXKN được phát triển sản xuất và sử dụng. Đó là gạch xi măng-cốt liệu, gạch nhẹ và các loại gạch khác. Trong đó, tỷ lệ gạch xi măng-cốt liệu trên tổng số VLXKN khoảng 74% vào năm 2015 và 70% vào năm 2020. Gạch nhẹ (có 2 loại là gạch từ bê tông khí chưng áp và gạch từ bê tông bọt) chiếm tỷ lệ vào khoảng 21% vào năm 2015 và 25% vào năm 2020 trên tổng số VLXKN. Gạch khác (đá chẻ, gạch đá ong, vật liệu xây không nung từ đất đồi và phế thải xây dựng, gạch silicát...) đạt tỷ lệ khoảng 5% từ năm 2015 trên tổng số VLXKN. Để Chương trình được thực hiện đúng kế hoạch, Chính phủ quy định, các dự án chế tạo thiết bị sản xuất VLXKN nhẹ và sản xuất gạch xi măng - cốt liệu công suất từ 7 triệu viên quy tiêu chuẩn/năm trở lên ngoài các chính sách ưu đãi về thuế nhập khẩu, thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi và hỗ trợ khác theo quy định hiện hành còn được hưởng ưu đãi như đối với các dự án thuộc chương trình cơ khí trọng điểm. Từ năm 2011, các công trình nhà cao tầng (từ 9 tầng trở lên) sử dụng tối thiểu 30% VLXKN loại nhẹ (khối lượng thể tích không lớn hơn 1000 kg/m3) trong tổng số vật liệu xây.(Nguồn: Quyết định 567/QĐ-TTg)

Ưu đãi đối với sản xuất, tiêu thụ VLXKNTheo Chương trình, sẽ có 3 chủng loại VLXKN được phát triển sản xuất và sử dụng. Đó là gạch xi măng-cốt liệu, gạch nhẹ và các loại gạch khác. Trong đó, tỷ lệ gạch xi măng-cốt liệu trên tổng số VLXKN khoảng 74% vào năm 2015 và 70% vào năm 2020. Gạch nhẹ (có 2 loại là gạch từ bê tông khí chưng áp và gạch từ bê tông bọt) chiếm tỷ lệ vào khoảng 21% vào năm 2015 và 25% vào năm 2020 trên tổng số VLXKN. Gạch khác (đá chẻ, gạch đá ong, vật liệu xây không nung từ đất đồi và phế thải xây dựng, gạch silicát...) đạt tỷ lệ khoảng 5% từ năm 2015 trên tổng số VLXKN. Để Chương trình được thực hiện đúng kế hoạch, Chính phủ quy định, các dự án chế tạo thiết bị sản xuất VLXKN nhẹ và sản xuất gạch xi măng - cốt liệu công suất từ 7 triệu viên quy tiêu chuẩn/năm trở lên ngoài các chính sách ưu đãi về thuế nhập khẩu, thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi và hỗ trợ khác theo quy định hiện hành còn được hưởng ưu đãi như đối với các dự án thuộc chương trình cơ khí trọng điểm. Từ năm 2011, các công trình nhà cao tầng (từ 9 tầng trở lên) sử dụng tối thiểu 30% VLXKN loại nhẹ (khối lượng thể tích không lớn hơn 1000 kg/m3) trong tổng số vật liệu xây.(Nguồn: Quyết định 567/QĐ-TTg)

Ưu đãi đối với sản xuất, tiêu thụ VLXKNTheo Chương trình, sẽ có 3 chủng loại VLXKN được phát triển sản xuất và sử dụng. Đó là gạch xi măng-cốt liệu, gạch nhẹ và các loại gạch khác. Trong đó, tỷ lệ gạch xi măng-cốt liệu trên tổng số VLXKN khoảng 74% vào năm 2015 và 70% vào năm 2020. Gạch nhẹ (có 2 loại là gạch từ bê tông khí chưng áp và gạch từ bê tông bọt) chiếm tỷ lệ vào khoảng 21% vào năm 2015 và 25% vào năm 2020 trên tổng số VLXKN. Gạch khác (đá chẻ, gạch đá ong, vật liệu xây không nung từ đất đồi và phế thải xây dựng, gạch silicát...) đạt tỷ lệ khoảng 5% từ năm 2015 trên tổng số VLXKN. Để Chương trình được thực hiện đúng kế hoạch, Chính phủ quy định, các dự án chế tạo thiết bị sản xuất VLXKN nhẹ và sản xuất gạch xi măng - cốt liệu công suất từ 7 triệu viên quy tiêu chuẩn/năm trở lên ngoài các chính sách ưu đãi về thuế nhập khẩu, thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi và hỗ trợ khác theo quy định hiện hành còn được hưởng ưu đãi như đối với các dự án thuộc chương trình cơ khí trọng điểm. Từ năm 2011, các công trình nhà cao tầng (từ 9 tầng trở lên) sử dụng tối thiểu 30% VLXKN loại nhẹ (khối lượng thể tích không lớn hơn 1000 kg/m3) trong tổng số vật liệu xây.(Nguồn: Quyết định 567/QĐ-TTg)


Dương Minh Ngọc (baoxaydung.com.vn)

Các bài đã đăng: