14:11 | 18/05/2018

Xóm không chồng ở rừng Đông Bắc Quảng Ninh

(Xây dựng) - Một bà cụ nằm bất động, thoi thóp thở, đôi mắt vô hồn hướng lên trần nhà, một căn nhà nhỏ đơn sơ khuất nẻo trong cánh rừng, thuộc xã Hòa Bình, huyện Hoành Bồ. Bên giường bệnh, một người đàn ông gần 60 tuổi khi bón thìa cháo, khi xoa bóp đôi chân lạnh giá của kẻ như “gần đất xa trời”. Trong không gian buồn thảm, bỗng trong tôi trào dâng lên một niềm vui, sự xúc động về tình người xuất phát từ lời kể của một người đồng nghiệp cũ đến thăm bạn ốm.


Xóm gái không chồng ở xã Hòa Bình, huyện Hoành Bồ.

Người bệnh là Trần Thị Dương, từng là thợ rừng giỏi của Lâm trường Hoành Bồ. Trần Thị Dương sinh năm 1961, tính cả tuổi đẻ cũng chưa đến 60, nhưng mắc căn bệnh ung thư não, nằm liệt giường sống thực vật đã lâu, hình hài nom như một bà cụ vậy. Còn người đàn ông kia không phải là chồng, cũng không phải anh trên em dưới với bà Dương. Ông ấy tên là Lương Tiến Ích, sinh năm 1960, trước đây làm cán bộ của Đoàn khảo sát thiết kế Lâm nghiệp. Hai người từng công tác với nhau ở khu rừng này. Ông Ích hưu trí, vợ con nhà cửa ở phường Bãi Cháy, TP Hạ Long. Bà Dương bạo bệnh, ông Ích đến thăm, chăm sóc nhiệt tình như ruột thịt, họ bên nhau đã gần nửa năm nay.


Bà Trần Thị Dương mệnh hệ ra đi, chắc thanh thản cuối đời đã tìm được lòng người có nhân.

Chuyện thì dài, vắn tắt: Từ năm 1978-1980, theo tiếng gọi của Đảng và Nhà nước, hàng vạn thanh niên ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ xung phong đến vùng rừng Đông Bắc xây dựng 12 lâm trường, với tinh thần mỗi lâm trường là một pháo đài bảo vệ vùng núi biên giới. Trần Thị Dương, thôn nữ ở tuổi trăng tròn đã để lại quê hương bao hoài bão, kể cả những lời hò hẹn, khoác balo lên đường, sẵn sàng làm cột mốc sống nơi biên ải. Cô được đầu quân vào Cty cầu đường cơ giới, một đơn vị mở đường lưỡng dụng, vừa phục vụ lâm nghiệp, vừa là huyết mạch hỏa tuyến. Những con đường chiến lược ẩn náu trong rừng sâu, nay còn là hằng số bí mật. Nhưng càng bí mật bao nhiêu, thì những người mở đường càng nhọc nhằn bấy nhiêu. Lao động thủ công, sức người là chính, không máy móc ầm vang, đơn vị còn ở ẩn tít trong rừng sâu để tránh chạ người, phòng gian bảo mật.

Khi biên giới ngừng tiếng súng, kế hoạch mở đường đã xong, đơn vị chuyển sang trồng rừng và khai thác rừng, đổi tên là Lâm trường Hoành Bồ II. Giám đốc lâm trường khi ấy là ông Lại Văn Giang. Lâm trường có trên 1.300 lao động, hầu hết là phụ nữ (nam giới ngày ấy tổng động viên hết vào bộ đội). Riêng Đội Cửa Hố của chị có trên 100 cô gái, nam giới chỉ đếm trên đầu ngón tay. Các anh hầu hết ở tuổi cha tuổi chú, đã có đôi có lứa. Những người cơ thể không chứng này tật nọ, tuyển quân không đắt mới còn. Đội Cửa Hố quản lý khai thác 3 tiểu khu, tiểu khu 156 và 157 ở xã Hòa Bình, Hoành Bồ; tiểu khu 169 ở xã Dương Huy, Cẩm Phả tổng cộng là 4.000ha rừng. Các cô ngày lên non lấy công việc trồng rừng, chặt tre đốn gỗ làm niềm vui. Cuối buổi xuống núi, nhất là khi màn đêm buông xuống, trăm cô gái nhìn nhau buồn tẻ. Có làm đỏm cũng chẳng để cho ai nhìn ngắm, áo mắc rách còn chẳng có vết là. Nói thì tục miệng, quả thực ngày đó nhiều khi cả nhóm mấy chục cô gái tắm tiên tập thể dưới suối rừng.Cả làng là phụ nữ có ai khác giới lọt vào thung lũng rừng già này, mà phải che đậy.


Suối Cửa Hố ở mãi tít rừng sâu nơi trước đây hàng trăm cô gái thường tắm giặt, không có người khác giới chẳng phải che đậy.

Rồi mỗi năm một tuổi đuổi xuân đi, “mạ qua thì”, nhiều cô không chịu nổi cảnh cô đơn phải đào tẩu hồi hương. Một số chị em may mắn lấy được tấm chồng là người dân tộc thiểu số ở địa phương. Đội Cửa Hố còn trơ lại trên 20 cô gái không chồng. Mỗi khi có tổ địa chất đến đặt mũi khoan thăm dò địa tầng trong khu rừng này, hoặc tổ đo đạc thiết kế đất rừng ngang qua, là cả đội thợ rừng vui như đón người thân xa nhà lâu ngày trở về. Củi nỏ gần lửa dễ bốc cháy, chuyện phụ nữ ngượng chả nói ra. Cô thì nhẹ dạ, “kiếm củi 3 năm thiêu trong một giờ”, cô tự ty cho mình phận hẩm, không được làm vợ thì quyết được làm mẹ.

Trần Thị Dương không hiểu mình rơi vào diện nào. Ở đội Cửa Hố ai cũng khen cô là một thợ rừng giỏi, lại được cha mẹ bù trì cho gương mặt phúc hậu, trái ngực tròn căng, ở nơi rừng rú mà nước da trắng mịn. Cô như bông hoa rừng thơm ngát, thương thay ở nơi khuất nẻo.

Cuộc đời chẳng ai đọc hết chữ ngờ, vào một đêm cuối thu trăng sáng, bên suối Cửa Hố, bóng hình cô gái thượng ngàn xinh đẹp và bóng hình anh trắc địa bện vào nhau, rồi đổ xuống vạt cát ngay mép nước. Họ làm gì chỉ có tán lá cây rừng biết.

Người trắc địa ấy là Lương Tiến Ích, chưa kịp “thề non”, lại lên đường đi đo đạc bản đồ khu rừng khác. Người đi không trở lại, còn Trần Thị Dương, sau hôm “bóng đổ” thấy khang khác trong người, gân cổ kéo lên giật thon thót. Cô thèm me, thèm khế, các khuy áo mỗi ngày một căng ra, chật thêm… Dương vô cùng hoang mang, lo sợ như người vừa phạm trọng tội.Trước lời đàm tiếu: cái Dương dại giai, quan hệ với thằng có vợ. Kẻ còn độc miệng rủa: con ranh cậy nhan sắc định “tranh vợ cướp chồng”. Dương âm thầm đau khổ, cả năm không dám đánh điện về nhà. Cô kín đáo vò lá ngót tươi uống sống, giã gừng già uống sống, hết hàn đến nhiệt đều vô hiệu. Cơ thể mỗi ngày một nở ra, quần mới may đã chật. Dương định bụng liều mình phơi mặt, nhờ thầy thuốc dao kéo, nhưng nghĩ kĩ lại thôi. Ở đội Cửa Hố còn 17 cô hoàn cảnh giống mình, không chồng mà có con. Chị The, chị Phái, chị Nhuần có 2 con; chị Gái có đến 3 con không biết mặt bố. Bụng nghĩ vậy mà “nhắm mắt đưa chân”, Dương lặng lẽ sinh nở, nuôi con một mình.

Rồi đứa trẻ không cha ra đời, giữa cánh rừng mênh mang. Người mẹ hờn hờn tủi tủi, mai mốt nỗi buồn cũng qua đi, đứa trẻ khôi ngô là niềm vui mới của cô. Cô đặt tên thằng bé là Hạnh, mong “qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai” đời sẽ hạnh phúc. Và mai ngày người con không bất hạnh như mẹ.

Trần Thị Dương không một lần được lên xe hoa trong bộ áo cưới, không được làm vợ nhưng có quyền làm mẹ. Nhưng quyền ấy, ở thời bao cấp thì vô cùng mỏng manh. Xã hội nhìn các cô bằng “mục kỉnh” khắt khe. Chị em tự quản làm đội trưởng sản xuất thì được, xét kết nạp vào Đảng thì không. Các danh hiệu thi đua của đội Cửa Hố còn vĩnh viễn về “mo”.

Những người chiến sĩ không cầm súng, lấy thân mình giữ đất biên cương, hậu chiến mất mát quá lớn. Nỗi đau âm thầm của họ, còn lớn hơn vết thương vì hòn tên mũi đạn. Giải quyết tồn đọng sau chiến tranh, phần trăm thương tích trên cơ thể làm cơ sở để Nhà nước ghi công. Chưa ai thống kê sự hy sinh lớn lao của đội quân tóc dài, xây dựng mỗi lâm trường là một pháo đài chiến đấu. Những người lính không số hiệu, không được tôn vinh lại còn bị kỳ thị.


Căn nhà nhỏ của người một thời là chiến sĩ không cầm súng, lấy thân mình làm cột mốc bảo vệ biên cương.

Năm 2018, túp lều tranh của 18 cô gái không chồng ở ẩn dưới tán cây rừng vùng Đông Bắc chỉ còn là kỷ niệm, từ năm 2004 đã thay bằng căn nhà xây nhỏ gọi là “mái ấm công đoàn”. Chủ nhân 18 nóc nhà cũng không còn nguyên vẹn, người đã hóa thân vào đất, người di cư đi nơi khác ở. Nhưng tên “xóm không chồng” thì bia miệng lưu danh còn lâu hơn bia đá.


Những người bạn đồng nghiệp cũ đến thăm bà Trần Thị Dương bạo bệnh, thầm phục nghĩa cử của ông Lương Tiếp Ích.

Nghĩa cử của ông Lương Tiến Ích, đến với bà Trần Thị Dương trong bạo bệnh, khiến bao người thầm phục, cảm động đến rơi mước mắt. Bà Dương mệnh hệ, trước phút “xuôi tay” chắc thanh thản, đã toại nguyện mình có ngày hạnh phúc. Mong vợ con ông Ích ở đâu đó chia sẻ với người chồng, người cha của mình. Những người con gái không được làm vợ, làm mẹ cộn lên nỗi lòng. Xóm không chồng, hậu quả của chiến tranh, những chiến sĩ tóc dài từng lấy thân mình làm cột mốc nơi rừng núi biên cương, Đảng, Nhà nước và cả xã hội cần quan tâm, nhìn nhận bao dung, giải quyết tồn đọng sau chiến tranh không có lời “đợt vét”.

Bút ký của Vũ Phong Cầm

Các bài đã đăng: